Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Ngay từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi nó luôn gắn chặt với loài người và phát triển cùng loài người: ở đâu có con người ở đó có giáo dục. Trải qua thời gian, giáo dục không chỉ còn là một hiện tượng, là sản phẩm của xã hội mà đã trở thành nhân tố tích cực, một động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người. Bản thân sự giáo dục được tổ chức có mục đích và cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi mới hình thành.
Comenxki – nhà sư phạm lỗi lạc người Nga – người đặt nền móng cho sự ra đời của “tổ chức hệ thống giáo dục” - vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục. Ông cũng là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục học đã nhấn mạnh đến sứ mệnh cao cả của người giáo viên đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao đối với họ như là một tấm gương trong việc giáo dục học sinh. Không thể không kể đến Jonh Dwey – nhà giáo dục thực dụng chủ nghĩa người Mỹ – với những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối liên hệ giữa nhà trường và xã hội cũng như nhận định của ông về một nền giáo dục hướng tới một kết quả cụ thể dẫu rằng có dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng. Tuy nhiên, cho tới tận đầu thế kỉ 20 vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nào về quản lý giáo dục.
Phải tới năm 1956, cuốn “Quản lý nhà trường” của A.Pôpốp - nhà hoạt động sư phạm và quản lý giáo dục của Liên xô cũ ra đời được coi như một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý giáo dục. Tiếp những năm sau đó, hàng loạt những tác phẩm khác ra đời: Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trường(1983), Những cơ sở của quản lý nội bộ trường học(1987), Kế hoạch hóa và quản lý giáo dục vĩ mô(1990) hay Nghề hiệu trưởng – một triển vọng thực tiễn được phản ánh(1991), Quản lý giáo dục – lí thuyết nghiên cứu và thực tiễn(1995). và ngày nay Quản lý giáo dục đã được công nhận là một nghề và là một bộ môn về khoa học quản lý. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, một số nhà giáo dục có tên tuổi như Giáo sư Nguyễn Lân, GS Phạm Minh Hạc, GS Nguyễn Ngọc Quang.
đã có những ý kiến và một số nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục. Các nhà nghiên cứu khác như: PGS.TS Đặng Quốc Bảo, TS Nguyễn Quốc Chí, PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS.TS Trần Khánh Đức. có rất nhiều đóng góp và quan tâm đến lĩnh vực này. Về lĩnh vực đào tạo nghệ thuật nói chung và đào tạo múa nói riêng, đã có nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý chất lượng đào tạo nghệ thuật dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau: đề tài “Các giải pháp tăng cường quản lý đào tạo tại Trường Múa Việt Nam” của NGUT Vũ Dương Dũng; “Múa trong lễ hội” của tác giả Trịnh Quốc Minh hay “Múa dân gian dân tộc Thái và ứng dụng trong đào tạo tại Trường Múa Việt Nam” của nhà giáo Nguyễn Thuý Nga…song chưa có đề tài nào đề cập đến việc quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trong đào tạo nghệ thuật múa.
Vì những lí do như vậy và trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng quý báu của các đề tài đi trước, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam, đáp ứng mục tiêu nâng cấp lên học viện vào năm 2012” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm: Ngày nay, hoạt động quản lý hiện hữu ở mọi nơi, mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý được coi là một công việc vô cùng quan trọng, khó khăn và phức tạp bởi xét cho cùng quản lý chính là liên quan đến con người.
Thật vậy, quản lý xưa cũ như chính con người: ở đâu có con người ở đó xuất hiện hoạt động quản lý. Vậy quản lý là gì? 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học[39].
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, H.Fayol thì cho rằng: “Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Đó chính là các chức năng cơ bản của nhà quản lý”[106]. Theo Nguyễn Ngọc Quang thì “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến”[33]. Theo Mary Parker Pallet: “Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc được thông qua người khác”[25].
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý(nhằm quản lý) đến khách thể(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8]. Bản thân “quản lý” là một khái niệm rộng và bao trùm. Khi mỗi tác giả có các cách tiếp cận khác nhau về quản lý thì sẽ có những cách hiểu và diễn đạt khác nhau. Song tựu trung lại khái niệm quản lý có thể khái quát lại như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Như vậy, hai yếu tố “chủ thể” và “khách thể” của quản lý luôn tồn tại bất biến như là cấu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trúc không thể thiếu khi nói đến quản lý và nó luôn chịu sự tác động lẫn nhau, tồn tại với tư cách là một hệ thống được cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. Các chức năng quản lý: Quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra + Chức năng lập kế hoạch: Là khởi điểm của một quá trình quản lý và được coi là nền tảng khi bàn đến hoạt động quản lý.
Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Nội dung của kế hoạch hóa gồm: xác định, hình thành mục tiêu(phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo(có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức và quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đặt ra. + Chức năng tổ chức: Khi nhà quản lý đã lập xong kế hoạch thì bước tiếp theo sẽ là triển khai kế hoạch, biến những ý tưởng thành hiện thực. Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả. Đây được xem là công cụ quan trọng của quản lý. + Chức năng lãnh đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, bộ máy vận hành đã được xây dựng, nhân sự đã được bố trí, xắp xếp thì nhất thiết phải có nhà lãnh đạo. Lãnh đạo là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động đến các thành viên trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức.
+ Chức năng kiểm tra: Trong hoạt động quản lý, nếu chỉ tiến hành quản lý chung chung mà không kiểm tra, đánh giá thì mới chỉ là một nửa của quản lý. Do vậy, đây là một chức năng quan trọng và không thể thiếu để đánh giá sự thành công của công tác quản lý. Kiểm tra là quá trình người lãnh đạo thiết lập ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động sau đó theo dõi, đối chiếu kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra để kịp thời điều chỉnh những sai lệch nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của tổ chức. Hay nói cách khác, kiểm tra thực chất là quá trình thiết lập mối liên hệ nghịch trong quản lý giúp chủ thể quản lý điều khiển tối ưu hệ thống quản lý của mình.
Bốn chức năng này có quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một chu trình quản lý hoàn chỉnh, trong đó chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng nhất. Ngoài bốn chức năng đã nêu trên, còn phải kể đến hai yếu tố quan trọng khác: thông tin quản lý và quyết định quản lý. Các phương pháp quản lý: Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người. Mà mỗi con người là những thực thể khác biệt nhau, xuất phát từ môi trường xã hội và môi trường đào tạo khác nhau nên nhà quản lý phải có những phương pháp quản lý thích hợp, khoa học và linh hoạt.
Phương pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua các phương tiện khác nhau để đạt được mục tiêu quản lý.