Chương 1: Cở sở lý luận về thuế thu nhập và những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập; - Chương 2: Thực trạng những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay; - Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay./ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về thuế thu nhập và những biện pháp pháp lý bảo đảm việc thu, nộp thuế thu nhập 1. Cơ sở lý luận về thuế thu nhập 1. Khái niệm thuế thu nhập Pháp luật nước ta hiện nay không định nghĩa thế nào là “thuế thu nhập”; Thực tế, nó được hiểu đơn giản là một loại thuế đánh vào thu nhập.
Trong đó, thuế là một khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng cho Nhà nước theo quy định của pháp luật, không mang tính chất đối giá, không hoàn trả trực tiếp; Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về thu nhập [36]; Ví dụ: - Theo ngôn ngữ học, thu nhập được giải thích là các khoản thu được trong một khoảng thời gian nhất định theo tháng, năm. - Theo lý thuyết về nguồn tài sản, thu nhập được xác định là tổng sản phẩm kinh tế mà hàng năm được bổ sung cho từng người từ những nguồn ổn định. - Theo lý thuyết về tăng tài sản thuần túy, thu nhập là tổng đại số của giá trị trên thị trường của các quyền lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và thay đổi về giá trị trong tổng các nguồn sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định. Qua tổng hợp, có thể thấy thu nhập là các khoản thu dưới dạng tiền tệ, hiện vật hoặc những giá trị vật chất, kinh tế mà tổ chức, cá nhân có được từ các hoạt động trong xã hội [36].
Về nguyên tắc, chỉ những thu nhập được pháp luật dự liệu, ghi nhận và đã phát sinh trên thực tế mới bị đánh thuế (trừ các trường hợp được miễn, giảm thuế theo quy định). Trong đó, thu nhập ở đây phải là những thu nhập hợp pháp; Những “thu nhập” không hợp pháp hoặc có nguồn gốc không hợp pháp như tiền/tài sản có được do trộm cắp, buôn bán ma túy, tài sản được tặng cho là do người khác phạm tội mà có hay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ các hoạt động bất hợp pháp khác sẽ không được pháp luật thừa nhận; Những “thu nhập” này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật (như bị tịch thu, sung quỹ, trả lại người bị mất, bị hại…). Do đó, không đặt ra vấn đề tính và thu thuế đối với những “thu nhập” không hợp pháp hoặc có nguồn gốc không hợp pháp này. Như vậy, một cách khái quát, thuế thu nhập là loại thuế đánh vào thu nhập đã phát sinh của tổ chức, cá nhân (theo từng lần hoặc trong một khoảng thời gian xác định từ những nguồn nhất định) khi đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định.
Các điều kiện do pháp luật quy định ở đây là các yếu tố liên quan tới đặc điểm của thu nhập (như: tính hợp pháp của thu nhập, giá trị của thu nhập, nguồn gốc của thu nhập…), đặc điểm của chủ thể có thu nhập (như: là người cư trú hay không cư trú; người có một nhà ở duy nhất hay còn nhà ở khác nữa…), nơi phát sinh thu nhập (từ hoạt động trong nước hay ở nước ngoài…). Đặc điểm của thuế thu nhập Bên cạnh những đặc điểm chung của thuế (như: gắn liền với quyền lực Nhà nước, là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước, không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp …), thuế thu nhập có một số đặc điểm sau: - Thứ nhất, thuế thu nhập là thuế trực thu thuần túy. Theo đó, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế luôn chính là người chịu thuế_người có thu nhập chịu thuế phát sinh; chủ thể nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế sang cho chủ thể khác. Tính trực thu là một trong những đặc điểm phân biệt thuế thu nhập với các loại thuế gián thu (như thế giá trị gia tăng) qua đó, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách, đề ra các biện pháp quản lý thuế phù hợp để việc thu, nộp thuế thu nhập được hiệu quả.
Ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Yếu tố “thuần túy” ở đây được phân biệt với một số loại thuế khác có thể là trực thu hoặc gián thu tùy vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ thuế nhập khẩu, nếu chủ thể nhập khẩu hàng hóa để bán lại hàng hóa đó thì trường hợp này thuế nhập khẩu có tính gián thu; còn nếu chủ thể nhập khẩu hàng hóa để trực tiếp sử dụng, tiêu dùng hàng hóa đó thì trường hợp này thuế nhập khẩu lại có tính trực thu. Do tính chất trực thu, thuế thu nhập thường vấp phải sự phản kháng của đối tượng nộp thuế nhiều hơn so với các loại thuế gián thu.
Điều này có thể xuất phát từ tâm lý của chủ thể nộp thuế: thuế trực thu sẽ tác động trực tiếp tới “túi tiền” của chủ thể nộp thuế nên dễ vấp phải sự phản kháng của họ. Còn thuế gián thu, do có sự dịch chuyển nghĩa vụ thuế từ chủ thể chịu thuế sang chủ thể nộp thuế. Theo đó, số tiền thuế phải nộp sẽ được tính vào giá hàng hoá, dịch vụ và người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện nộp thuế thay cho người chịu thuế do vậy hạn chế sự phản kháng của người chịu thuế. Pháp luật thuế ở nước ta hiện nay ghi nhận và cho phép Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo thoả thuận với chủ thể nộp thuế (theo điều 20 Luật quản lý thuế) bao gồm cả việc khai, nộp thuế thu nhập, quyết toán thuế thu nhập, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế thu nhập được miễn, được giảm, được hoàn.
Tuy nhiên, đây không phải là sự dịch chuyển nghĩa vụ nộp thuế mà là quan hệ ủy quyền giữa người chịu thuế (tổ chức, cá nhân có thu nhập chịu thuế) với bên thứ ba là Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thay mình làm thủ tục và nộp số tiền thuế phải nộp cho cơ quan thuế trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa các bên. Về bản chất, người chịu thuế và chủ thể nộp thuế trong trường hợp này vẫn là cùng một chủ thể_bên ủy quyền. - Thứ hai, thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau nhưng suy cho cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập. Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập đánh trực tiếp vào thu nhập của tổ chức, cá nhân khi có thu nhập chịu thuế phát sinh. Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước thu của họ được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ. Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ đã được vật chất hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối tượng đánh thuế là tài sản. Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của cải mà chủ thể có được nhờ những nguồn thu nhất định (từ hoạt động kinh tế, được tặng cho…), tuy nhiên giữa chúng có sự khác biệt nhất định, cụ thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong khoảng thời gian nhất định (một tháng hoặc một năm). Như vậy, thu nhập của một thời kỳ không bao gồm thu nhập của thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì bao gồm cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại. Vì vậy, khái niệm tài sản phải gắn với yếu tố thời điểm còn khái niệm thu nhập gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định [79].
Do thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh, vì thế, một nội dung quan trọng của chính sách thuế thu nhập là phải xác định được thu nhập chịu thuế. Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, các khoản thu nhập của tổ chức, cá nhân rất đa dạng nhưng không phải khoản thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế; chỉ những khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịu thuế. Pháp luật thuế thu nhập của các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước đều quy định các khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế thu nhập. Thông thường, các khoản thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và Nhà nước có thể thể kiểm soát được.
Có như vậy, pháp luật thuế thu nhập mới có thể bảo đảm được tính khả thi, bảo đảm tính công bằng cho các đối tượng nộp thuế [79]. - Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp, tính ổn định không cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường cao hơn so với các loại thuế khác. Do có đối tượng đánh thuế là thu nhập nên nguồn thu từ thuế thu nhập phụ thuộc nhiều vào giá trị các khoản thu nhập chịu thuế của chủ thể trong kỳ tính thuế [79].