Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Người chưa thành niên phạm tội Người chưa thành niên là những người còn non nớt về thể chất và tinh thần, song họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước nên cần được quan tâm chăm sóc đặc biệt. Trong lứa tuổi của mình, việc phạm sai lầm của những người chưa thành niên là hoàn toàn dễ hiểu vì họ chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất và nhân cách, cho nên việc đấu tranh phòng chống tội phạm ở người chưa thành niên cũng cần có căn cứ trên cơ sở đặc điểm tâm lý người chưa thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: "Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [33]. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm thì tuổi của người chưa thành niên phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với tuổi của người chưa thành niên trong các ngành luật khác, đó là từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Theo Điều 68 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BLHS 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này” [41]. Như vậy một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao pháp luật hình sự lại quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là 14 tuổi? Ở mỗi quốc gia trên thế giới có quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là rất khác nhau. Tuy nhiên việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự giữa các quốc gia có thể khác nhau hoặc trùng nhau. Một số quốc gia quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi như Singapore, Jamaica… song trong pháp luật hình sự một số quốc gia khác như Đức, Nga, Nhật Bản là từ đủ 14 tuổi trở lên, trong khi đó ở Peru, Colombia…, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi trùng với tuổi xác định là thành niên.
Sở dĩ, pháp luật hình sự mỗi quốc gia có quy định khác nhau như vậy là vì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như sự phát triển của từng nước. Ở nước ta, pháp luật hình sự có quy định 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội. Trong độ tuổi này, người chưa thành niên phát triển nhanh về tâm sinh lý, họ đã ý thức được hành vi của mình, tự ý thức được đâu là đúng, là sai cũng như ý thức được được phần nào việc gì là đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm. Do đó, họ có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về chính hành vi sai trái do mình thực hiện.
Theo Điều 12 BLHS 1999 có sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong lứa tuổi người chưa thành niên phạm tội, quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, người chưa thành niên phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự có thể là: - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. - Nguời từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Điều 12 BLHS đã đưa ra độ tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự là đủ 14 tuổi.
Cũng trong BLHS, Điều 68 ghi nhận việc áp dụng BLHS đối với người chưa thành niên phạm tội đó là người từ đủ 14 tuổi dưới 18 tuổi. Điều này có nghĩa rằng, ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nước áp dụng đối với hành vi nguy hiểm do các đối tượng này gây ra. Như vậy, tiêu chí để xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên bao gồm: - Có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện. - Người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với loại tội phạmvà lỗi của người đó.
- Các cơ quan có thẩm quyền đã cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội. Chỉ khi nào hội tụ đủ ba điều kiện trên thì người chưa thành niên mới phải chịu trách nhiệm hình sự bằng hình phạt do Tòa án tuyên. Người chưa thành niên thực hiện tội phạm ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ. Tóm lại, trên cơ sở lập luận trên có thể đưa ra định nghĩa khoa học về người chưa thành niên phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.
Thủ tục giải quyết các vụ án là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Luật hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự, do vậy cần phải có thủ tục tố tụng áp dụng. Thông thường, theo quy định của pháp luật, thủ tục TTHS đối với tội phạm nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng bao gồm các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ngoài những thủ tục chung thì BLTTHS dành riêng một chương quy định về TTHS và chính sách xử lý đặc biệt với người chưa thành niên phạm tội (tại Chương XXXII, từ Điều 302 đến Điều 310). Người chưa thành niên phạm tội là ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và nhiều khi còn bị tác động mạnh của những điều kiện bên ngoài.
Do đó, quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải được tiến hành hết sức thận trọng, cụ thể và chính xác trên cơ sở xem xét đầy đủ các yếu tố của bản thân và những điều kiện bên ngoài tác động đến người đó. Điều 302 BLTTHS quy định về yêu cầu đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán khi THTT phải xác định rõ các yếu tố về tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Quy định này không những phù hợp với đặc điểm của người chưa thành niên mà còn phù hợp với thực tế về những nguyên nhân khách quan tác động đến hành vi phạm tội của các em. Chính vì vậy, việc quy định về hiểu biết tâm sinh lý của người chưa thành niên đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, cũng như các yếu tố liên quan đến nguyên nhân và điều kiện dẫn việc thực hiện hành vi phạm tội của các em là cần thiết.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật TTHS có những quy định đặc biệt để áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Đối với các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên, ngoài những yêu cầu chung quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của BLTTHS, thì theo quy định tại Điều 303 BLTTHS và những quy định có liên quan thì việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên chỉ có thể được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có thể áp dụng trong trường hợp họ phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên: theo quy định tại Điều 304 BLTTHS thì nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là không cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan THTT. Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.
Về thi hành án phạt tù: Theo quy định thì không được áp dụng chế độ tạm giữ người chưa thành niên như đối với người đã thành niên, mà họ phải được giam giữ riêng, các chế độ với người chưa thành niên cũng được ưu ái hơn. Pháp luật quy định về chế độ học văn hóa, đào tạo nghề nghiệp… để giúp đỡ các em bổ túc trình độ văn hóa, tạo dựng nghề nghiệp đảm bảo khi ra trường các em có nghề nghiệp ổn định.