chương 1, ta có thể tóm tắt lại như sau: Đầu tư xây dựng là một lĩnh vực quan trọng, là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững cho một đất nước cũng như của từng địa phương. Thực hiện tốt công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng nói chung và đặc biệt là các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế, của các cấp, các ngành và của các nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp tích cực nhất để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao, bền vững với khả năng tích luỹ có hạn của các nền kinh tế nói chung, của đất nước ta nói riêng. Quản lý dự án đầu tư chính là quản lý vốn đầu tư, là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt được mục tiêu đầu tư đã đề ra. Quản lý các dự án đầu tư phải quản lý xuyên suốt từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa dự án vào vận hành khai thác, mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục.
Các nội dung chủ yếu của quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước gồm: Công tác xây dựng kế hoạch vốn đầu tư; công tác lập và quản lý quy hoạch; công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thẩm định thiết kế - dự toán; quản lý công tác đấu thầu; công tác triển khai thi công, nghiệm thu và thanh quyết toán. 12 Hiệu quả dự án đầu tư được đánh giá theo quan điểm của các nhà đầu tư, theo quan điểm của Nhà nước và theo quan điểm quản lý dự án. Theo quan điểm quản lý dự án, dự án đầu tư xây dựng hiệu quả phải đáp ứng được các yêu cầu: hoàn thành đúng thời gian quy định; đạt được chất lượng và thành quả mong muốn; tiết kiệm các nguồn lực, chi phí đầu tư trong phạm vi cho phép. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng gồm: Điều kiện tự nhiên khu vực dự án đầu tư, khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư, công tác xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng, nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và đặc biệt là công tác quản lý dự án của các chủ đầu tư.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2012-2016 2. Khái quát tình hình kinh tế xã hội quận Kiến An 2. Đặc điểm địa lý - tự nhiên Quận Kiến An, thành phố Hải Phòng được thành lập từ tháng 8/1994, với diện tích tự nhiên 29,55 km2. Toàn quận gồm 10 đơn vị hành chính cấp phường là: Ngọc Sơn, Trần Thành Ngọ, Bắc Sơn, Quán Trữ, Tràng Minh, Văn Đẩu, Phù Liễn, Nam Sơn, Đồng Hoà, Lãm Hà.
Quận Kiến An nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam so với trung tâm thành phố Hải Phòng, có vị trí: phía Bắc giáp sông Lạch Tray, phía Nam giáp sông Đa Độ, phía Đông giáp huyện Kiến Thuỵ, phía Tây giáp huyện An Lão. Độ cao trung bình từ +3 đến +3,5m; các khu vực cao nhất là núi Cột Cờ, núi Cựu Viên, Thiên Văn, núi Đấu. Địa hình dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam thấp nhất là khu vực phía Nam các phường Phù Liễn và Tràng Minh giáp với sông Đa Độ. Kiến An vốn là thủ phủ của tỉnh Kiến An trước đây với lịch sử phát triển đô thị từ trên 100 năm.
Trên địa bàn còn có nhiều di tích lịch sử được xếp hạng: có đền thờ Chiêu Chinh Công chúa; đền Kha Lâm, đền Kiên Vũ, đền Tây Sơn…đều là các di tích lịch sử, văn hóa có giá trị, ngoài ra còn được thiên nhiên ưu đãi với những dãy núi Cột Cờ, quần thể đồi - rừng - núi Cựu Viên, núi Đấu và đồi Thiên Văn với cảnh quan đẹp, độ dốc sườn đồi vừa phải; thảm thực vật phong phú, khu vực núi Đấu còn là nơi quy tụ của nhiều loài chim về sinh sống. Có thể nói đây là tặng phẩm tự nhiên hiếm có cho một đô thị thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây không chỉ là máy điều hòa không khí tự nhiên cho khu đô thị mà là lợi thế hứa hẹn tiềm năng phát triển các hoạt động du lịch sinh thái đồi rừng ngay trong lòng thành phố Hải Phòng. Tình hình kinh tế- xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của quận giai đoạn 2012 - 2016 đạt 8%.
Thu nhập bình quân đầu người 1. Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 8,58%, thương mại dịch vụ tăng 18,2%, sản xuất nông nghiệp thuỷ sản tăng 2,5%. Đến năm 2016 trên địa bàn quận có hơn 1000 doanh nghiệp công, nghiệp xây dựng, thương mại; 6.425 hộ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản những năm qua đã bước đầu chuyển dịch mạnh theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng trang trại, gia trại ở các phường Văn Đẩu, Phù Liễn, Lãm Hà, Tràng Minh.
Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ. Đến nay: công nghiệp - xây dựng chiếm 57,13%, Thương mại - Dịch vụ chiếm 41,79% và Nông nghiệp chiếm 1%. Dân số của quận năm 2016 là 111.350 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động 57.160 người, chiếm 51% dân số. Cơ cấu lao động: về số người hoạt động trong ngành thương mại - dịch vụ chiếm 39,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 32,1%, nông nghiệp chiếm 29,7% Kiến An với diện tích 2.334,6 ha là đất lâm nghiệp chiếm 45,2%.
Trong đất nông nghiệp, đất lúa chiếm diện tích tới 74,5% diện tích đất nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp chiếm 45,9% diện tích đất tự nhiên. Trong cơ cấu phi nông nghiệp, đất ở chiếm 29,8%, đất an ninh quốc phòng chiếm 24,9%, đất công nghiệp chiếm 17,7%. Sau 5 năm, đất xây dựng và công nghiệp tăng thêm gần 200 ha, chủ yếu do mở mang khu công nghiệp và xây dựng đô thị.
Đất chưa sử dụng còn 263,9 ha chiếm 8,9% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất chưa sử dụng chủ yếu là đất mặt nước sông và một phần diện tích đồi núi chưa sử dụng. Từ những phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội trên cho thấy đặc điểm xã hội của địa phương có những thuận lợi và khó khăn thách thức ảnh hưởng đến quản lý NSNN trên địa bàn: 15 Về thuận lợi: giao thông thuận tiện tạo, cơ cấu dân số vàng (số người trong độ tuổi lao động chiếm 51% dân số), điều kiện đất đai còn nhiều, đó là những điều kiện để thu hút nguồn lực đầu tư phát triển trên địa bàn những năm tới. Về khó khăn: Nguồn tài nguyên thiên nhiên của quận khan hiếm, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quận còn chậm, chưa vững chắc, không có ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất công nghiệp nhỏ, manh mún.
Các hoạt động dịch vụ và giao lưu kinh tế trên địa bàn còn kém phát triển. Nguồn thu ngân sách còn tương đối thấp. Cơ cấu lao động không cân xứng với tỷ cơ cấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 1,45% nhưng tỷ lệ lao động chiếm 29,7%. Tỷ lệ người lao động sống bằng nghề nông nghiệp (29,7%), không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khó chuyển đổi nghề nghiệp tìm việc làm mới trong điều kiện đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp đang giảm dần do quá trình đô thị hóa.
Khái quát về tổ chức bộ máy thực hiện công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn quận Kiến An, Hải Phòng 2. Tổ chức bộ máy thực hiện công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn quận Kiến An Bộ máy tổ chức thực hiện công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn quận Kiến An được thể hiện qua sơ đồ sau: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Phòng Tài Phòng Đơn vị được Kho bạc nhà chính-Kế quản lý đô giao nhiệm vụ nước Kiến An hoạch thị chủ đầu tư Biểu đồ 2. Tổ chức tham gia quản lý các dự án đầu tư XDCB (Nguồn: UBND quận Kiến An) 16 2. Vai trò quản lý của các tổ chức trong công tác quản lý các dự án ĐTXD cơ bản - Hội đồng nhân dân quận: Giám sát việc lập, thẩm định quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư các chương trình, dự án do địa phương quản lý; Quyết định hoặc ủy quyền cho Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, cho ý kiến quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C thuộc cấp quận quản lý.
- Uỷ ban nhân dân quận có trách nhiệm cân đối ngân sách, phê duyệt dự toán ngân sách năm, phê duyệt danh sách các công trình và hạng mục công trình cần đầu tư; giữ vai trò là cơ quan quyết định đầu tư, phê duyệt các dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán xây dựng các công trình. - Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách nhiệm xây dựng kế hoạch các công trình cần đầu tư xây dựng trình UBND quận xem xét quyết định. Ngoài ra, Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách nhiệm thẩm định các dự án đầu tư, tham mưu giúp UBND quận quyết định quy mô đầu tư. Phòng Tài chính - Kế hoạch quận có vai trò quan trọng trong công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của quận.
Phòng có nhiều chức năng, tuy nhiên chức năng chính trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản đó là chuẩn bị nguồn kinh phí để thực hiện các dự án và trình lãnh đạo quận kế hoạch vốn ĐTXD cơ bản hàng năm; kết hợp với phòng Quản lý đô thị trong công tác giao kế hoạch hàng năm cho các đơn vị thực hiện. Phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện công tác thẩm định và phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách của quận. - Phòng phòng quản lý đô thị thực hiện công tác thẩm định thiết kế kỹ thuật và dự toán xây dựng công trình.