Chương 1: Lý luận chung về vốn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN; Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP điện chiếu sáng Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2017; Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP Điện chiếu sáng Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2022. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm 1.
Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế, với chức năng chủ yếu là tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm hàng hoá dịch vụ phục vụ cho mọi nhu cầu của xã hội và nhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị cho doanh nghiệp. Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên mang tính bắt buộc đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển được là phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lí và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần nắm vững được bản chất cũng như những đặc trưng cơ bản về vốn. Chỉ khi nào hiểu rõ tầm quan trọng cũng như giá trị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách có hiệu quả. Theo quan điểm kinh tế học hiện đại. [10] Từ những phân tích trên, ta có thể nêu một định nghĩa khái quát về vốn như sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời.
Đặc điểm của vốn kinh doanh Thứ nhất: VKD đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản có thực mà DN huy động và sử dụng vào SXKD, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền, phát minh, sáng chế. [10] 11 Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng xuất phát điểm và đích đến của vòng tuần hoàn phải là tiền - tiền quay về nơi xuất phát với giá trị ngày càng lớn hơn.
H’ – T’ (T’ > T) SLĐ Thứ ba: Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Do đó, khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh, DN không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các NV như phát hành chứng khoán, kêu gọi liên doanh, liên kết… [10] Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Giá trị thời gian của vốn phát sinh do trong điều kiện nền KTTT, dưới ảnh hưởng của nhân tố giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau, khiến cho một đồng vốn ở thời điểm này sẽ có giá trị khác hẳn ở một thời điểm khác. Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tư và xác định hiệu quả do đầu tư mang lại, DN cần chú ý xem xét đến yếu tố thời gian của vốn.
[10] Thứ năm: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tránh hiện tượng thất thoát, lãng phí. KTTT có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên tuỳ thuộc vào hình thức đầu tư, chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không, song không bao giờ có một đồng vốn vô chủ và người sử dụng vốn luôn phải có trách nhiệm với đồng vốn mà mình nắm giữ, sử dụng. [10] Thứ sáu: Trong nền KTTT, vốn được xem là loại hàng hóa đặc biệt. Khác với hàng hoá thông thường khác, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau song cũng có thể tách rời nhau, vốn khi bán ra không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng và người mua vốn chỉ được quyền sử dụng vốn đó trong một thời gian nhất định.
Vai trò của vốn kinh doanh đối với hoạt động của doanh nghiệp Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với DN. Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một DN và tiến hành các hoạt động SXKD. Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một DN. Về mặt pháp lý, mỗi DN khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh vực kinh doanh đó.
Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của DN trước pháp luật. Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình DN. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ. Vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình SXKD nào.
Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P = F (K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T). Hơn nữa, trong hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ có thể mua được khi có vốn. Hoạt động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động SXKD, nếu không DN sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ. Các hoạt động hàng ngày của DN tạm thời bị đình trệ, suy giảm.
Nếu tình hình này không được khắc phục kịp thời, DN sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền miên những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhập với Công ty khác. Vốn là cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh Trong quá trình phát triển của mình, DN luôn mong muốn mở rộng SXKD, giữ vững và vươn lên trong thị trường. Để làm được điều đó, đòi hỏi DN phải liên tục đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, hệ thống phân phối sản phẩm. Để làm được tất cả những công việc đó 13 DN không thể không cần đến NV đầu tư mở rộng SXKD.
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng SXKD trong các DN ở Việt Nam hiện nay là rất lớn. Nhiều DN do không có NV bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường. Phân loại vốn VKD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau cụ thể như: (1) Phân loại theo hình thái biểu hiện. (2) Phân loại theo vai trò.
(3) Phân loại theo thời gian huy động vốn. (4) Phân loại theo nguồn hình thành. Theo hình thái biểu hiện Theo hình thái biểu hiện, VKD được chia thành vốn hữu hình và vốn vô hình. Vốn hữu hình: Bao gồm tiền, các giấy tờ có giá trị và những tài sản biểu hiện bằng hiện vật (nhà xưởng, máy móc, thiết bị).
Vốn vô hình: Là giá trị của tài sản vô hình (bản quyền, phát minh sáng chế…) Việc nhận thức đúng đắn về các hình thái biểu hiện của vốn sẽ giúp việc quản lý và khai thác triệt để về vốn đặc biệt là vốn vô hình. Theo vai trò Xét theo vai trò của vốn có thể phân chia thành 02 loại: Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ). *) Vốn cố định VCĐ của một DN là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì TSCĐ của DN có thời gian luân chuyển dài.
Tuỳ theo hình thái biểu hiện và kết hợp tính chất đầu tư thì VCĐ dưới dạng TSCĐ của DN được chia làm ba loại: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ tài chính. TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của DN như chi phí thành lập DN, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trị lợi thế thương mại. TSCĐ vô hình cũng có thể được hình thành do DN đầu tư hay cho thuê dài hạn. TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị phương tiện vận tải, các vật kiến trúc., những TSCĐ hữu hình này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình SXKD.
TSCĐ hữu hình có thể do DN tự mua sắm, xây dựng hoặc cho thuê dài hạn. TSCĐ tài chính là giá trị các khoản đầu tư tài chính dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư vốn vào liên doanh dài hạn, cho thuê TSCĐ dài hạn. Đây là những khoản vốn đầu tư có thời gian thu hồi dài (lớn hơn một năm hay một chu kỳ kinh doanh). Thông thường, VCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số VKD của DN, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả vốn SXKD.
*) Vốn lưu động VLĐ trong DN là số tiền ứng trước để đầu tư, mua tài sản lưu động (TSLĐ) của DN nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được tiến hành liên tục.