CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Tổng quan chung về doanh nghiệp xây dựng. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của DNXD 1. Khái niệm doanh nghiệp xây dựng Có nhiều cách hiểu về doanh nghiệp, theo quy định của Luật Doanh nghiệp:“Doanh nghiệp là là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Học viện tài chính): “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục tiêu sinh lời”. Dựa trên khái niệm về doanh nghiệp, Phan Hồng Mai (2012) đưa ra khái niệm về doanh nghiệp xây dựng: “Doanh nghiệp xây dựng là tổ chức kinh tế, hoạt động trong ngành xây dựng với những mục đích nhất định, thỏa mãn điều kiện của doanh nghiệp (căn cứ vào luật phát của từng quốc gia như có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật)”. Như vậy có thể hiểu doanh nghiệp xây dựng (DNXD) là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích xây, tạo lập, xây dựng (XD) các công trình XD đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp thường hoạt động theo hướng đa ngành nghề, đăng ký kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Chính vì vậy một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp xây dựng nếu doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng chủ đạo trong tổng doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, tức 6 là doanh thu từ hoạt động xây dựng chiếm tỷ trọng trên 50% tổng doanh thu thuần của doanh nghiệp. Phân loại doanh nghiệp xây dựng: Nhằm phục vụ cho những mục đích nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng, các nhà phân tích có thể sử dụng nhiều cách phân loại khác nhau. Những cách phân loại cơ bản đó là: - Thứ nhất, xét theo quy mô doanh nghiệp có thể chia thành: + Một, doanh nghiệp xây dựng quy mô lớn; + Hai, doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa; + Ba, doanh nghiệp xây dựng quy mô nhỏ; + Bốn, doanh nghiệp xây dựng quy mô siêu nhỏ. Tiêu chí để phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ tại các quốc gia khác nhau có những khác biệt nhất định.
Tuy nhiên, đặc điểm chung đó là, các doanh nghiệp xây dựng quy mô lớn có trình độ tích tụ vốn lớn, có điều kiện đầu tư thiết bị thi công hiện đại, có thể thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao và thường hội đủ điều kiện năng lực thi công mạnh, có thể đảm nhận vị trí tổng thầu xây dựng. Trong khi đó, các doanh nghiệp xây dựng quy mô nhỏ và vừa thường có lượng nhân lực hạn chế, hạn chế về năng lực thi công và thiết bị, do đó, thường đảm nhận vị trí là nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp tổng thầu. 1: Phân loại quy mô doanh nghiệp Tiêu chí DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa DN lớn Tổng nguồn vốn Dưới 3 tỷ Từ 3 - 20 tỷ Từ 20 - 100 tỷ Từ trên 100 tỷ đồng đồng đồng Tổng số lao Dưới 10 Từ trên 10 - Từ trên 100 - Từ trên 200 lao động người 100 lao động 200 lao động động Nguồn: Quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 7 - Thứ hai, xét theo năng lực và vai trò trong quá trình thực hiện công trình xây dựng có thể chia thành: + Một, doanh nghiệp xây dựng là tổng thầu xây dựng; + Hai, doanh nghiệp xây dựng là nhà thầu phụ. Các doanh nghiệp đảm nhận vị trí là tổng thầu xây dựng thường là các doanh nghiệp lớn, có năng lực thi công mạnh và việc đảm nhận vị trí này thường đem lại tỷ suất lợi nhuận tốt hơn các nhà thầu phụ.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp tổng thầu thường không tự mình thực hiện toàn bộ các phần hành xây dựng mà thường thuê lại các nhà thầu phụ để thực hiện các phần hành công việc. - Thứ ba, doanh nghiệp xây dựng có thể được phân loại theo công trình mà doanh nghiệp thi công xây dựng: + Doanh nghiệp xây dựng công trình dân dụng; + Doanh nghiệp xây dựng công trình công nghiệp; + Doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông; + Doanh nghiệp xây dựng công trình thủy lợi; + Doanh nghiệp xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; + Doanh nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng; Trong mỗi nhóm doanh nghiệp trên lại có thể đi sâu vào từng loại hẹp về công trình xây dựng đển phân loại doanh nghiệp xây dựng. Ví dụ, trong các doanh nghiệp xây dựng công trình công nghiệp, theo loại công trình công nghiệp cụ thể có thể chi tiết thành các loại doanh nghiệp như: doanh nghiệp xây dựng công trình khai thác dầu, khí; doanh nghiệp xây dựng công trình hoá chất, hóa dầu; doanh nghiệp xây dựng công trình kho xăng, dầu, doanh nghiệp xây dựng công trình công trình cơ khí. Đặc điểm của các doanh nghiệp xây dựng Thường sử dụng một lượng lớn lao động: Các doanh nghiệp xây dựng có 8 đặc điểm là sử dụng một lượng lớn lao động, trong đó có lao động thủ công.
Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng có đặc thù là có nhiều rủi ro với người lao động, do đó, công tác đảm bảo an toàn lao động cần được đặt biệt coi trọng. Địa điểm thi công thường bị phân tán, do đó, thiết bị và con người có thể phải điều động giữa các địa điểm thi công dẫn đến gia tăng chi phí vận chuyển. Vì vậy, việc sắp xếp bố trí nguồn nhân lực và thiết bị thi công hợp lý trong hoạt động xây dựng đóng vai trò lớn trong việc tiết giảm giá thành các công trình xây dựng. Thời gian của vòng quay vốn thường dài: Việc thi công các công trình xây dựng thường diễn ra trong thời gian dài, bên cạnh đó, sau khi công trình đưa vào sử dụng thì một phần giá trị hợp đồng vẫn chưa được thanh toán khi chưa đến hết thời hạn bảo hành công trình.
Chính vì vậy, thời gian thu hồi vốn của doanh nghiệp xây dựng thường dài và đòi hỏi phải quản lý tốt công tác thu hồi công nợ. Ảnh hưởng của đặc điểm ngành đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thường thấp: Mặc dù doanh nghiệp có thể theo đuổi một trong hai chiến lược cạnh tranh cơ bản là: Cạnh tranh bằng dẫn đầu về chi phí thấp hoặc cạnh tranh thông qua khác biệt hóa, tuy nhiên, do sản phẩm xây dựng là sản phẩm có tính tiêu chuẩn hóa cao, vì vậy, sẽ khó tạo ra sự khác biệt hóa một cách rõ ràng. Chính vì vậy, phương thức cạnh tranh đặc trưng của ngành là cạnh tranh bằng dẫn đầu về chi phí thấp thông qua giá bỏ thầu thấp, dẫn tới tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thường thấp. Để bù lại điểm yếu này, các doanh nghiệp xây dựng phải cố gắng nhận thầu nhiều công trình xây dựng và nỗ lực đạt doanh thu và vòng quay tài sản cao và sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.
Kỳ luân chuyển vốn dài và vòng quay vốn chậm: Do đặc điểm xây dựng công trình thường diễn ra trong thời gian dài, do đó, việc thanh quyết toán 9 công trình diễn ra tại nhiều thời điểm khác nhau và kỳ luân chuyển vốn của ngành xây dựng là khá dài. Cơ cấu nguồn vốn thường khá phụ thuộc vào nợ vay: Để bù vào hạn chế là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thấp, các doanh nghiệp xây dựng thường cố gắng tận dụng đòn bẩy tài chính thông qua chính sách vay nợ hợp lý nhằm gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Do đó, đặc trưng là ngành xây dựng khá phụ thuộc vào nguồn nợ phải trả. Chi phí, giá thành sản phẩm gồm nhiều loại, phức tạp và có tính cá biệt cao: Mỗi một công trình xây dựng hoàn thành gồm nhiều công đoạn, mỗi công đoạn có cách tính toán chi phí khác nhau, bản thân mỗi công đoạn đó ở những công trình khác nhau cũng có chi phí khác nhau.
chính điều này khiến công tác quản lý chi phí, xác định giá thành đối với các sản phẩm xây dựng tương đối phức tạp. Kết quả kinh doanh trong năm có tính thời vụ: Doanh thu của ngành xây dựng thường có sự khác biệt khá lớn giữa mùa mưa và mùa khô. Ngành xây dựng có đặc trưng rất rõ là chịu tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết. Trong điều kiện mưa lũ, ngành xây dựng thường phải đình hoãn các hoạt động xây dựng do đó dẫn đến suy giảm doanh số, trong khi đó, trong những mùa khô, hoạt động xây dựng diễn ra thuận lợi và do đó, doanh số thường cao, chi phối tới việc bố trí lao động, máy thi công, xắp xếp vốn ở 2 thời điểm: cao điểm và thấp điểm về thời vụ kinh doanh để đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn lực của đơn vị.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Khái niệm và phân loại HQKD của DNXD 1. Khái niệm HQKD của DNXD Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế hiện nay còn nhiều quan điểm chưa đồng nhất, các nhà nghiên cứu đứng dưới góc độ, phạm vi khác nhau lại đưa ra một quan điểm khác nhau về phạm trù này. Theo Paul A Samuemlson viết trong cuốn Kinh tế học chỉ ra: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”.
Theo cách tiếp cận này, đã chỉ rõ được hai đặc tính của phạm trù hiệu quả đó là sử dụng tối ưu các nguồn lực và mục đích của hoạt động. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa đưa đến cách thức xác định hiệu quả nói chung, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, cho rằng: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Với cách tiếp cận này, việc xác định hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp thuần túy dựa vào có tiêu thụ được sản phẩm hay không.
Quan điểm này chưa phân định rõ hiệu quả và kết quả kinh doanh khi chưa tính đến yếu tố chi phí để đạt được hiệu quả kinh doanh đó.