Chương 1: Ngân Hàng Thương Mại và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Chi nhánh 2 TP. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Chi nhánh 2 TP. Do thời gian và khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, luận văn chưa thể để cặp đến hết các khía cạnh của vấn để và còn nhiều sơ sót nhất định.
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, bạn hè, tôi trân trọng gữi đến quý thầy cô lời cám ơn chân thành. Ludn an tat nghiệp Vũ Thị Lài CHUONG I NGAN HANG THUONG MAI VA HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH CUA NGAN HANG THUONG MAI II. NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI TRỌNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Định nghĩa Ngân Hàng Thương Mại : Ngân hàng thương mại có một lịch sử hình thành tổn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó — kinh tế thị trường — thì ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Điều 20 Luật tổ chức tín dụng có nêu rõ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dụng nhận tiền gởi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dung được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình hoạt động ngản hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Ngân Hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gởi, cho vay, chiết khấu và cung cấp các dịch vụ tài chính. Ngân Hàng Thương Mại là một doanh nghiệp cho nên nó có quyền bình đẳng với các doanh nghiệp khác về mọi nghĩa vụ, quyền lợi trong cùng môi trường hoạt động trước pháp luật, như lợi nhuận, nộp thuế, trích lập các tận án tố! nghiệp quỹ. Tính đặc biệt của Ngân Hàng Thương Mại thể hiện ở chỗ sắn phẩm của nó là tiền tệ mà tiền là loại hàng hóa đặc biệt, là một trong những công cụ để nhà nước hoạch định các chính sách của nền kinh tế, là đối tượng được Nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Do đó hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại mang tính đặc thù, không giống với các hoạt động kinh doanh khác trong nên kinh tế.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là huy động vến và cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương mại khác với nguồn vốn của các doanh nghiệp khác, chủ yếu là vốn huy động. Ngân Hàng Thương Mại thu hút các nguồn vốn dư trữ với thời hạn và quy mô rất khác nhau nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống cho nên hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại có liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Để hiểu rỏ hơn về Ngân hàng thương mại, ta cần xem xét các chức năng và những nghiệp vụ chủ yếu của Ngân Hàng Thương Mại để từ đó có thể thấy được vai trò quan trong của Ngân Hàng Thương Mại đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Chức năng của Ngân Hàng Thương Mại: Trong nền kinh tế thị trường Ngân Hàng Thương Mại thực hiện các chức năng chủ yếu sau: Chức năng làm trung gian tín dụng Chức năng làm trung gian thanh toán. - Chức năng tạo ra tiền bút tệ - Chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Chức năng trung gian tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường, sự vận động của vốn tiền tệ phụ thuộc vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vì vậy, ở cùng một thời điểm nào đó sẽ phát sinh hiện tượng: có những đơn vị kinh tế có vốn dư thừa trong khi những đơn vị kinh tế khác tạm thời thiếu vốn để sản xuất kinh doanh.
Hoạt động của Ngân hàng thương mại đã khắc phục được hạn chế trên, đứng ra tập trung tiền tệ chưa sữ dụng của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu cần bổ sung tạm thời. Như vậy Ngân hàng vừa là “ người đi vay ” vừa là “ người cho vay ", hay nói cách Luận án tốt nghiệp Võ Thị Lài khác nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng là người đi vay để cho vay, nhằm góp phần diều hoà vốn tao tiên để phát triển kinh tế đất nước. Tóm lại thực hiện chức năng này, Ngân hàng thương mai huy động các nguồn uén tạm thời nhàn rối trong xã hội và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đến các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu. Chức năng trung gian thanh toán : Xuất phát từ việc Ngân Hàng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp đã khiến cho Ngân Hàng có thể thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủ y nhiệm của khách hàng.
Khi các khách hàng gửi tiền vào Ngân Hàng, họ sẽ được Ngân Hàng đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi nhất là đối với các khoản thanh toán có giá in lớn, cùng khắp địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn. Kính tế xã hội ngày càng phát triển, hoạt động mua bán, trao đối, giao lưu hàng hoá và thanh toán ngày càng tăng, chức năng này cuả Ngân Hàng Thương Mại càng trở nên quan trọng. Để đáp ứng được nhu cầu, Ngân Hàng Thương Mại đã phát triển rất nhanh chóng và đa dạng các công cụ và phương tiện thanh toán cung cấp cho các khách hàng một cách nhanh chóng, đạt độ chính xác cao tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm bớt chỉ phí. Điều đó có tác dụng hỗ trự trở lại đối với hoạt động kinh doanh Ngân Hàng.
Qua thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, ngân hàng đã trở thành “ người thủ quỹ “ của các nhà doanh nghiệp. Các nhà doanh nghiệp ngày nay không còn phải cần tiền để trao đổi cho người bán, cũng như không không cần phải đếm tiền khi nhận các khoản chỉ trả, mọi công việc này được thực hiện bằng cách mở tài khoản tiền gởi ở ngân hàng và trên cơ sở đó ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các khoản chi trả, đồng thời ủy nhiệm cho ngân hàng thu nhận các khoản tiền. Như vậy ngoài nhận liển gởi của khách hàng, Ngắn hàng còn cung cấp cho khách hàng các phương liện thanh toán không dùng tiền mặt: séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chỉ. thông qua các phương tiện này, ghi có tài khoản người khác khi những người chủ tài khoản ra lệnh.2,3, Chức năng tạo bút tệ: Nhờ nhận tiễn ký thác của khách hàng, Ngân Hàng thương mại có khả năng cho vay.
Nhưng khi cho vay ngân hàng lại tạo ra tiền bút tệ hay chuyển khoản. Vì vậy khi cho vay ngân hàng thương mại trở thành người cung ứng Ladn dn iu nghipp V2 Thị Lài tiền tệ quan trọng trong nền kinh tế. Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các Ngân Hàng Thương Mại đã tạo ra bút tệ. Việc tạo ra tiền “bút tệ” thay thế cho tiền mặt là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động Ngân Hàng.
Chính nhờ phương thức lao tiền này mà ngân hàng đã trở thành trung tâm của đời sống kinh tế hiện đại. Quá trình tạo tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt động lín dụng và tổ chức thanh toán trong hệ thống ngân hàng. Tiền bút tệ được tạo ra thông qua hệ số tạo tiền. Tuy nhiên nền kinh tế chỉ cần một lượng tiền vừa đủ nên Ngân Hàng Nhà Nước thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực hiện việc kiểm soát lượng liền phát hành trong lưu thông Thực hiện quyết định số 496/2000/QĐ - NHNNI ngày 01/12/2000 của NHNN và công căn số 3046/CV-NHCT3 ngày 06/12/2000 của NHCTVN về việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gởi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.
Kể từ tháng 12/2000 tỷ lệ dự trử bắt buộc đối với tiền gởi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 5% đối với VNĐ và 12% dối với ngoa1 tệ. Chức năng cung cấp các dịch vụ Ngân Hàng: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tỷ trọng các khỏan thu về dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu nhập về hoại động kinh doanh Ngân Hàng. Nó càng trở nên quan trọng bởi vì kinh doanh dịch vụ Ngân Hàng ít rúi ro hơn nhiều so với nghiệp vụ kinh doanh tín dụng, nếu phục vụ tốt sẽ mang lại hiệu qua cao cho các Ngân hàng thương mại. Hiện nay các ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ như: thu chị hộ, chi lương, tư vấn, cho thuê kết sắt, chuyển tiền, dịch vụ bảo hiểm, thanh toán quốc tế, mua bán nhà, chỉ trả kiều hối.
Qua các chức năng cơ bản trên cho chúng ta thấy được ý nghĩa cua các Ngân Hàng Thương Mại và vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế xã hồi. Vai trò của Ngân Hàng Thương Mai: « Thiic đẩy tăng trưởng kinh tế: Luận ún tới nghiện V22 Thị Lai Đặc trưng cơ bản của hệ thống ngân hàng do tính chất của cơ chế quản lý kinh tế quyết định. Nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Do vậy vai trò cúa ngân hàng được thể hiện trong cơ chế mới có thể thấy nỗi lên là: Do tính chất logic của nền sản xuất mà hiện tượng phổ biến là tại các thời điểm, ở một »ố chủ thể tạm thời thừa vốn, trong khi ở các chủ thể khác lại thiếu.