Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, ngành chăn nuôi giữ vai trò trọng yếu, đóng góp từ 20,5% đến 21,2% tổng giá trị sản xuất toàn ngành. Nhằm tập trung nguồn lực và tái cơ cấu ngành, ngày 21/6/1996, Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam (VINALIVESCO) được thành lập theo Quyết định số 862/NN-TCCB/QĐ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 53 đơn vị. Trong đó, chăn nuôi và xuất khẩu thịt lợn được xác định là hướng sản xuất kinh doanh trọng tâm.

Giai đoạn 1996 - 1999, hoạt động chăn nuôi và xuất khẩu thịt lợn của Tổng công ty đối mặt với nhiều biến động phức tạp: thị trường xuất khẩu truyền thống (khu vực Liên Xô cũ và Đông Âu) có sự thay đổi lớn; thị trường Nga xuất hiện rủi ro thanh toán và rào cản thú y; áp lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu lớn như Mỹ và Trung Quốc gia tăng; phương thức sản xuất trong nước còn phân tán, chi phí thức ăn cao và công nghệ chế biến sau thu hoạch chưa phát triển đồng bộ.

Trước yêu cầu cấp thiết về việc duy trì thị phần ngoại thương và nâng cao hiệu quả chuỗi ngành hàng, đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu, các hình thức xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu thịt lợn trong nền kinh tế.
  2. Phân tích thực trạng hoạt động chăn nuôi, mạng lưới cơ sở giống và kết quả xuất khẩu thịt lợn của Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam giai đoạn 1996 - 1999, chỉ rõ những vướng mắc về thị trường, vốn, công nghệ và kiểm dịch.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước nhằm đẩy mạnh chăn nuôi, chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu thịt lợn của Tổng công ty trong giai đoạn 2000 - 2005.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất giống, chăn nuôi thương phẩm và nghiệp vụ xuất khẩu thịt lợn.
  • Phạm vi không gian: Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam cùng hệ thống các xí nghiệp giống, nhà máy chế biến thành viên và các thị trường xuất khẩu trọng điểm (Nga, Hồng Kông, Trung Quốc, khu vực Đông Á).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát thực tế giai đoạn 1996 - 1999 và định hướng giải pháp cho giai đoạn 2000 - 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề vận dụng hệ thống lý luận ngoại thương và quản trị kinh doanh quốc tế, kết hợp với các văn bản pháp quy hiện hành:

  • Khung lý thuyết thương mại quốc tế: Làm rõ khái niệm xuất khẩu là hệ thống bán hàng có tổ chức qua biên giới quốc gia; phân loại các hình thức xuất khẩu chủ yếu gồm xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu ủy thác, gia công xuất khẩu, buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, mua bán đối lưu) và xuất khẩu theo nghị định thư chính phủ.
  • Khung chính sách và pháp lý: Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 26/12/1991 và Nghị định số 110/HĐBT ngày 31/2/1992 hướng dẫn thi hành; các cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (bảo hiểm mất vốn từ 60 - 70% đến 100%), trợ cấp tín dụng trước và sau giao hàng.
  • Mô hình tính toán hiệu quả đầu tư xuất khẩu: Tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánh giá định lượng:
    • Tỷ lệ % gia tăng xuất khẩu so với khấu hao tài sản cố định: $$\text{Tỷ lệ % (hàng năm)} = \frac{\text{Giá trị gia tăng xuất khẩu hàng năm}}{\text{Khấu hao hàng năm}} \times 100%$$
    • Mức độ sử dụng vốn = $\frac{\text{Tổng số vốn đầu tư}}{\text{Số lao động sử dụng}}$ (đồng/người)
    • Năng suất lao động = $\frac{\text{Giá trị sản lượng}}{\text{Số lao động sử dụng}}$ (đồng/người)
  • Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu chuỗi thời gian về sản lượng, kim ngạch, đơn giá xuất khẩu FOB; kết hợp phân tích chuỗi giá trị từ khâu cung ứng giống, thức ăn, chăn nuôi nông hộ đến chế biến và tiêu thụ.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam, số liệu thống kê ngành nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số liệu thương mại thịt lợn toàn cầu từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận về xuất khẩu

Chương I tập trung làm rõ vai trò động lực của hoạt động ngoại thương đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua việc tạo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu máy móc thiết bị, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng ngoại, mở rộng thị trường và giải quyết việc làm. Tác giả phân tích chi tiết quy trình, ưu nhược điểm của từng hình thức xuất khẩu, từ xuất khẩu trực tiếp (biên lợi nhuận cao nhưng chịu rủi ro thị trường lớn) đến xuất khẩu ủy thác và gia công xuất khẩu (mức độ rủi ro thấp, tận dụng vốn và công nghệ nước ngoài).

Về các biện pháp mở rộng xuất khẩu, chương này phân chia thành 3 nhóm công cụ quản lý:

  1. Nhóm biện pháp tổ chức nguồn hàng và cơ cấu xuất khẩu: Xây dựng mặt hàng chủ lực, đẩy mạnh gia công và phát triển khu chế xuất.
  2. Nhóm biện pháp tài chính - tín dụng: Bảo lãnh tín dụng, cấp tín dụng ngắn hạn trước/sau giao hàng, trợ cấp trực tiếp qua ưu đãi thuế, trợ cấp gián tiếp qua xúc tiến thương mại và quản lý tỷ giá hối đoái linh hoạt.
  3. Nhóm biện pháp thể chế - tổ chức: Thiết lập viện nghiên cứu thông tin thị trường, mở cơ quan đại diện thương mại tại nước ngoài và đàm phán các hiệp định song phương.

Đánh giá vai trò của ngành hàng thịt lợn tại Việt Nam, tác giả chỉ ra việc lai tạo giống lợn Ỉ thuần chủng (trọng lượng chỉ đạt khoảng 40 kg/con) với các giống ngoại cao sản (lợn Bắc Kinh, Bạch Nga) đã tạo ra "giống lợn lai kinh tế" đạt khối lượng 85 - 120 kg/con, đáp ứng tiêu chuẩn nạc hóa cho xuất khẩu. Năm 1997, sản lượng xuất khẩu thịt lợn cả nước gồm 10.000 tấn lợn đông lạnh, 3.000 tấn lợn tươi và 30.000 tấn sản phẩm chế biến, mang lại kim ngạch 15 triệu USD và lợi nhuận 1,2 triệu USD.

Chương II: Thực trạng tình hình chăn nuôi và xuất khẩu thịt lợn ở Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam

VINALIVESCO có trụ sở chính tại 519 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội, quản lý 46 doanh nghiệp hạch toán độc lập, 2 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 3 đơn vị sự nghiệp và 3 công ty liên doanh. Bộ máy quản trị gồm Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, 3 Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và 6 phòng chức năng (Xuất nhập khẩu I, Xuất nhập khẩu II, Kỹ thuật thú y, Tổ chức cán bộ, Kỹ thuật sản xuất, Kế hoạch). Quy trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu tại Tổng công ty gồm 10 bước nghiêm ngặt từ nghiên cứu thị trường, xin giấy phép chuyến, đàm phán mở L/C, kiểm định phẩm chất đến thủ tục hải quan và quyết toán.

Về thực trạng chăn nuôi giống, Tổng công ty vận hành 7 doanh nghiệp nòng cốt: Xí nghiệp Tam Đảo nuôi 200 con lợn ngoại thuần chủng cao sản GGP để tạo dòng cái cao sản và dòng đực cuối cùng; hệ thống trại giống ông bà GP tại An Khánh, Mỹ Văn, Đồng Giao, Điện Biên, Đông Á để sản xuất lợn nái bố mẹ PS; duy trì 3 cơ sở kiểm tra năng suất cá thể lợn đực giống. Năm 1999, đàn lợn cả nước đạt 16,9 triệu con, sản lượng thịt 1,408 triệu tấn (riêng vùng đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 5 triệu con, cung ứng 300.000 tấn thịt hơi, tăng 5 - 7% so với năm 1998).

Tuy nhiên, kết quả xuất khẩu thịt lợn giai đoạn 1996 - 1999 sụt giảm nghiêm trọng do các cú sốc bên ngoài và điểm nghẽn nội tại:

Năm thực hiện Mặt hàng xuất khẩu Khối lượng (Tấn) Trị giá xuất khẩu (USD)
1996 - Lợn sữa cấp đông
- Thịt lợn mảnh
- Thịt chế biến
1.220
1.800
1.980
Tổng sản lượng xuất khẩu đạt mức nền tảng ban đầu
1997 - Lợn sữa cấp đông
- Thịt lợn mảnh
1.800
3.894
Tổng khối lượng đạt 5.838 tấn (chiếm 58,38% tổng lượng xuất khẩu cả nước)
1998 - Lợn sữa cấp đông
- Thịt lợn mảnh
242
1.900
398.130
(Tổng sản lượng giảm xuống 1.415 tấn)
1999 - Lợn sữa cấp đông
- Thịt lợn chế biến
122,0
154,5
132.693
86.000 (Tổng sản lượng chỉ đạt gần 300 tấn)

Nguyên nhân của sự suy giảm xuất khẩu được tác giả chỉ rõ:

  • Biến động giá và cạnh tranh quốc tế: Năm 1998 - 1999, Mỹ và Trung Quốc dư thừa thịt lợn; Mỹ thực hiện chính sách bù lỗ xuất khẩu sang Nga khiến giá thịt xuất khẩu sụt giảm từ mức 1.350 USD/tấn (giai đoạn 1993 - 1997) xuống còn 850 USD/tấn FOB.
  • Rủi ro thanh toán và hiệp định thú y: Ngân hàng Nga không bảo lãnh mở L/C trả chậm; cơ quan Thú y Nga mới chỉ cấp phép cho 3 nhà máy của Việt Nam được phép xuất hàng do Việt Nam chưa ký Hiệp định thú y song phương.
  • Thị trường Hồng Kông và sự cạnh tranh nội bộ: Hồng Kông có nhu cầu 175.000 tấn/năm nhưng bị Trung Quốc khống chế 80% thị phần; các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cạnh tranh không lành mạnh khiến giá lợn sữa giảm từ 3.000 USD/tấn xuống còn 2.000 USD/tấn vào cuối năm 1997.
  • Hạn chế chế biến và nguồn vốn: Toàn hệ thống chỉ có nhà máy Hải Phòng đạt công suất tối đa 10.000 tấn/năm và một nhà máy liên doanh công nghệ Úc (7.000 tấn/năm); các lò mổ địa phương chỉ đạt 1.000 tấn/năm. Doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để thu mua dự trữ khi giá lợn hơi sụt giảm.

Chương III: Những biện pháp đẩy mạnh chăn nuôi và xuất khẩu thịt lợn ở Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam

Chương III xây dựng phương hướng và các nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2000 - 2005:

1. Mục tiêu và phương hướng tổng quát đến năm 2000:

  • Phấn đấu kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 44,250 triệu USD (tăng 24% so với năm 1999); lợi nhuận đạt 2,0 tỷ đồng (tăng 1,5 tỷ đồng); nộp ngân sách 40 tỷ đồng; thu nhập bình quân người lao động đạt 375.000 đồng/người/tháng.
  • Đầu tư 20,88 tỷ đồng nâng cấp đàn giống lợn phía Bắc; xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi Ngọc Hồi công suất 20 tấn/giờ thông qua nguồn vốn ORET Hà Lan (tài trợ 35% giá trị thiết bị); xử lý dứt điểm các liên doanh thua lỗ.

2. Quy hoạch hệ thống cơ sở giống lợn đến năm 2005:

Phân loại giống Tên cơ sở giống Quy mô năm 2000 (Con) Quy mô định hướng năm 2005 (Con)
Lợn ngoại XN Lợn giống Tam Đảo 300 400
XN Lợn giống Triệu Hải 150 400
XN Lợn giống Đông Á 400 600
XN TAGS An Khánh 200 Chuyển chuyên biệt nuôi đàn bố mẹ
XN Giống vật nuôi Mỹ Văn 400 Chuyển chuyên biệt nuôi đàn bố mẹ
XN Lợn giống Đồng Giao 100 Chuyển chuyên biệt nuôi đàn bố mẹ
Trung tâm Kiểm tra lợn giống TW 350 400
Lợn nội Nông trường Đông Triều 200 400
XN Lợn giống Triệu Hải 150 300

3. Các nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu giai đoạn 2000 - 2005:

  • Tổ chức vùng nguyên liệu khép kín: Triển khai mô hình liên kết ký hợp đồng gia công với các nông hộ quy mô 50 - 100 con trở lên; nhà máy cung ứng con giống, thức ăn và dịch vụ thú y, đồng thời bao tiêu toàn bộ sản phẩm lợn hơi; thực hiện cơ chế hạch toán luân chuyển nội bộ tại Tổng công ty nhằm cắt giảm chi phí trung gian và lãi vay ngân hàng.
  • Nâng cấp công nghệ chế biến: Nâng cấp các lò mổ tại Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Tiền Giang từ công suất 100 con/ca lên gấp đôi, đưa tổng công suất chế biến đạt từ 15.000 tấn lên 35.000 tấn/năm; xúc tiến xây dựng nhà máy chế biến thực phẩm hiện đại công suất 40.000 tấn/năm gần Hà Nội đạt tiêu chuẩn vệ sinh của EU và Mỹ.
  • Phát triển thị trường: Mở rộng xuất khẩu sang các cảng phía Tây và Biển Đen của Nga, chuyển dần sang bán nguyên liệu cho các nhà máy chế biến để phấn đấu chiếm 5 - 10% thị phần nhập khẩu của Nga; thành lập Hiệp hội xuất khẩu thịt để thống nhất giá xuất khẩu sang Hồng Kông; kiểm soát chất lượng qua đường tiểu ngạch sang Trung Quốc; hợp tác chuyển giao công nghệ với Đài Loan để xuất khẩu sang Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc.
  • Chính sách vốn và quản lý thú y: Đề nghị ngân hàng gia hạn chu kỳ vay vốn lưu động lên 6 tháng đối với các đơn vị bán hàng trả chậm; cấp kinh phí cho Cục Thú y xúc tiến kiểm định và ký kết hiệp định kiểm dịch với các thị trường nhập khẩu.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu thực tiễn: Khóa luận cung cấp bức tranh số liệu xác thực về hoạt động sản xuất giống, biến động sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của VINALIVESCO từ năm 1996 đến năm 1999 trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động.
  • Thiết lập mô hình chuỗi giá trị khép kín: Tác giả đề xuất mô hình chuỗi liên kết khép kín "Giống - Thức ăn - Chăn nuôi - Chế biến - Xuất khẩu" với cơ chế hạch toán nội bộ tập trung, giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa nông hộ chăn nuôi và nhà máy chế biến xuất khẩu.
  • Đóng góp kiến nghị chính sách ngoại thương: Đưa ra các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về phương thức thanh toán L/C liên ngân hàng Việt - Nga, cơ chế bù lãi suất tín dụng và đề xuất thành lập Hiệp hội xuất khẩu thịt nhằm chấm dứt tình trạng cạnh tranh phá giá trên thị trường quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các số liệu nghiên cứu tập trung chủ yếu vào giai đoạn đầu thành lập Tổng công ty (1996 - 1999); một số đề án và dự án công nghệ chế biến trong giai đoạn 2000 - 2005 mới dừng lại ở mức dự toán quy hoạch và định hướng triển khai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của mô hình chuỗi liên kết chăn nuôi khép kín; nghiên cứu sâu hơn về các tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm dịch động vật (SPS) và rào cản kỹ thuật thương mại khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học các ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Quản trị kinh doanh nông nghiệp và Kinh tế phát triển.
  • Các nhà quản lý doanh nghiệp ngành chăn nuôi, chế biến thực phẩm trong việc xây dựng phương án liên kết vùng nguyên liệu, quản trị chuỗi cung ứng xuất khẩu và phòng ngừa rủi ro tỷ giá, thanh toán ngoại thương.
  • Các cán bộ hoạch định chính sách thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương trong việc xây dựng cơ chế hỗ trợ xúc tiến thương mại nông sản và đàm phán hiệp định thú y quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và quy mô tổ chức ban đầu ra sao?
VINALIVESCO được thành lập theo Quyết định số 862/NN-TCCB/QĐ ngày 21/6/1996 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sắp xếp lại từ 53 doanh nghiệp (gồm 46 doanh nghiệp hạch toán độc lập, 2 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 3 đơn vị hành chính sự nghiệp và 3 công ty liên doanh với nước ngoài).

2. Nguyên nhân chủ yếu nào khiến sản lượng xuất khẩu thịt lợn của Tổng công ty giảm mạnh trong hai năm 1998 - 1999?
Do Mỹ và Trung Quốc khủng hoảng thừa thịt lợn; chính phủ Mỹ thực hiện chính sách bù lỗ xuất khẩu sang Nga khiến giá xuất khẩu giảm từ 1.350 USD/tấn xuống còn 850 USD/tấn FOB; phía Nga thiếu bảo lãnh tín dụng ngân hàng; rào cản kiểm dịch thú y chưa được tháo gỡ và chất lượng thịt trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về tỷ lệ nạc.

3. Mục tiêu tài chính và các dự án phát triển giống của Tổng công ty trong năm 2000 được xác định như thế nào?
Mục tiêu năm 2000 gồm: Kim ngạch xuất nhập khẩu 44,250 triệu USD (tăng 24%), lợi nhuận 2,0 tỷ đồng, nộp ngân sách 40 tỷ đồng, thu nhập bình quân 375.000 đồng/người/tháng. Tổng công ty triển khai dự án đầu tư 20,88 tỷ đồng cải tạo giống lợn phía Bắc, dự án giống lợn cao sản Tam Đảo (200 con GGP) và dự án xây dựng nhà máy thức ăn Ngọc Hồi công suất 20 tấn/giờ bằng vốn ORET Hà Lan.

4. Mô hình chuỗi liên kết chăn nuôi khép kín được tác giả đề xuất vận hành theo cơ chế nào?
Mô hình liên kết các khâu "Giống - Thức ăn - Chăn nuôi nông hộ - Chế biến - Xuất khẩu" được hạch toán tập trung tại Tổng công ty. Việc giao nhận sản phẩm nội bộ được ghi sổ theo giá định mức, toàn bộ hoạt động vay vốn ngân hàng và thu tiền xuất khẩu chỉ diễn ra tại Tổng công ty nhằm giảm thiểu chi phí trung gian, lãi vay và thuế, giúp hạ giá thành sản phẩm.

5. Tác giả đã đưa ra những kiến nghị trọng tâm nào đối với các cơ quan quản lý Nhà nước?
Kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước thiết lập thỏa thuận thanh toán L/C có bảo lãnh với ngân hàng phía Nga hoặc thí điểm hỗ trợ tín dụng không tính lãi; chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Cục Thú y đẩy nhanh đàm phán ký kết Hiệp định thú y song phương và hỗ trợ vốn tín dụng đầu tư cho công nghiệp chế biến, bảo quản thịt xuất khẩu.

Kết luận

Chuyên đề thực tập đã phản ánh trung thực thực trạng sản xuất và hoạt động ngoại thương ngành hàng thịt lợn tại Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam giai đoạn 1996 - 1999. Nghiên cứu đã làm rõ những điểm nghẽn về giống, thức ăn, công nghệ chế biến và rào cản thanh toán quốc tế sau thời kỳ biến động thị trường Liên Xô cũ. Hệ thống các giải pháp quy hoạch vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi khép kín và mở rộng thị trường giai đoạn 2000 - 2005 cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý ngành chăn nuôi Việt Nam.