Luận án TS Nguyễn Mạnh Hùng: Khắc phục tâm lý xấu cho VĐV Karatedo cấp cao

Tổng hợp các biện pháp khắc phục trạng thái tâm lý xấu trước thi đấu cho VĐV Karatedo. Nghiên cứu khoa học giúp nâng cao thành tích thi đấu.

Trường đại học

Viện Khoa Học Thể Dục Thể Thao

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

179
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về trạng thái tâm lý xấu trước thi đấu Karatedo

Trạng thái tâm lý xấu là một trong những thách thức lớn nhất mà vận động viên Karatedo phải đối mặt trước các kỳ thi đấu quan trọng. Đây là tình trạng tâm lý không ổn định, đặc trưng bởi sự lo âu, căng thẳng và mất tự tin. Huấn luyện tâm lý có vai trò quan trọng trong việc giúp vận động viên vượt qua những trạng thái tiêu cực này. Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng, trạng thái tâm lý tiêu cực không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý mà còn làm giảm hiệu suất thi đấu đáng kể. Các biểu hiện đặc trưng bao gồm: thiếu tập trung, sợ hãi thất bại, mất kiểm soát cảm xúc, và suy giảm động lực. Hiểu rõ nguyên nhân gây ra tâm lý xấu là bước đầu tiên để xây dựng các biện pháp khắc phục hiệu quả. Việc nhận biết sớm những dấu hiệu này giúp huấn luyện viên can thiệp kịp thời, giúp vận động viên duy trì trạng thái tâm lý tối ưu trong kỳ thi đấu.

1.1. Định nghĩa tâm lý xấu trong Karatedo

Tâm lý xấu trước thi đấu là một trạng thái tâm lý bất ổn định khi vận động viên Karatedo chuẩn bị cho cuộc thi đấu. Các biểu hiện chính bao gồm: lo âu thái quá, căng thẳng cơ bắp, nhịp tim tăng, khó tập trung, và sự hoài nghi về khả năng của mình. Trạng thái này có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày trước kỳ thi đấu, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất thi đấu.

1.2. Ảnh hưởng của tâm lý xấu đến kết quả thi đấu

Trạng thái tâm lý tiêu cực có thể làm giảm hiệu suất thi đấu từ 30-50%. Khi vận động viên ở trạng thái tâm lý xấu, khả năng đánh giá tình huống, phản ứng nhanhkỹ thuật thực hiện đều bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến việc mất những cơ hội quý báu trong trận đấu.

II. Các nguyên tắc cơ bản của huấn luyện tâm lý Karatedo

Nguyên tắc huấn luyện tâm lý là nền tảng để xây dựng các biện pháp khắc phục hiệu quả cho vận động viên Karatedo cấp cao. Theo nghiên cứu, việc áp dụng đúng các nguyên tắc này giúp vận động viên phát triển năng lực tâm lý mạnh mẽ. Nguyên tắc thứ nhất là tính khoa học - tất cả các biện pháp phải dựa trên nền tảng khoa học vững chắc. Nguyên tắc thứ hai là tính hệ thống - huấn luyện tâm lý phải được tích hợp vào toàn bộ quá trình tập luyện. Nguyên tắc thứ ba là tính liên tục - việc điều chỉnh tâm lý không phải là công việc một lần mà phải duy trì lâu dài. Nguyên tắc thứ tư là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Các huấn luyện viên Karatedo cần áp dụng các nguyên tắc này một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm riêng của từng vận động viên.

2.1. Nguyên tắc khoa học và hệ thống

Huấn luyện tâm lý khoa học đòi hỏi phải dựa trên các kiến thức tâm lý học có cơ sở khoa học. Các biện pháp khắc phục phải được kiểm chứng qua thực nghiệm. Tính hệ thống yêu cầu huấn luyện tâm lý phải kết hợp với huấn luyện thể chấtkỹ thuật thi đấu một cách hợp lý để tạo ra hiệu quả tổng hợp.

2.2. Nguyên tắc liên tục và áp dụng thực tiễn

Điều chỉnh tâm lý phải được thực hiện thường xuyên, không chỉ trước kỳ thi đấu mà cả trong quá trình tập luyện. Việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh vào các tình huống thực tế trong tập luyện giúp vận động viên Karatedo làm quen và sẵn sàng hơn khi bước vào sân thi đấu.

III. Các biện pháp khắc phục tâm lý xấu cho vận động viên Karatedo

Để khắc phục trạng thái tâm lý xấu, các biện pháp điều chỉnh tâm lý cần được thiết kế một cách khoa học và toàn diện. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng đã đề xuất nhiều biện pháp hiệu quả dành cho vận động viên Karatedo cấp cao. Biện pháp thứ nhấtthăng bằng tâm lý thông qua các kỹ thuật thở nhật bản (Seiza), thiền định, và tưởng tượng. Biện pháp thứ haihuấn luyện kỹ năng tâm lý như tập trung, tự gợi dục, và kiểm soát cảm xúc. Biện pháp thứ batạo môi trường tập luyện mô phỏng áp lực thi đấu. Biện pháp thứ tưhỗ trợ tâm lý từ huấn luyện viên và đội ngũ chuyên gia. Biện pháp thứ nămchuẩn bị tâm lý trước thi đấu với kế hoạch cụ thể từ 2-3 tuần trước ngày thi. Các biện pháp này cần được tổ chức thực nghiệm để đánh giá hiệu quả.

3.1. Kỹ thuật thở và thiền định

Kỹ thuật thở sâuthiền định là những biện pháp điều chỉnh tâm lý cơ bản, giúp vận động viên Karatedo giảm trạng thái lo âucăng thẳng. Thông qua việc luyện tập kỹ thuật thở nhật bản (Seiza), vận động viên có thể kiểm soát nhịp tim, giảm áp lực tâm lý, và tăng khả năng tập trung. Thiền định giúp lặng tĩnh tâm trí, loại bỏ suy nghĩ tiêu cực, tạo ra trạng thái tâm lý ổn định.

3.2. Huấn luyện kỹ năng tâm lý và tưởng tượng

Huấn luyện kỹ năng tâm lý bao gồm việc rèn luyện khả năng tập trung, kỹ năng tự gợi dục, và kiểm soát cảm xúc. Tưởng tượng tích cực (visualization) là công cụ mạnh mẽ, giúp vận động viên Karatedo hình dung kịch bản thi đấu thành công, tăng tự tin, và giảm lo âu trước kỳ thi đấu.

3.3. Tạo môi trường tập luyện mô phỏng

Tạo áp lực trong tập luyện thông qua thi đấu giả định, tập luyện với khán giả, và mô phỏng điều kiện thi đấu giúp vận động viên Karatedo làm quen với trạng thái căng thẳng trong kỳ thi đấu thực. Điều này giúp giảm sốc tâm lý khi bước vào sân thi đấu chính thức.

IV. Lộ trình chuẩn bị tâm lý trước thi đấu Karatedo

Chuẩn bị tâm lý là quá trình từng bước, cần được bắt đầu từ 2-3 tuần trước kỳ thi đấu chính thức. Giai đoạn thứ nhất (2-3 tuần trước) tập trung vào tăng cường huấn luyện tâm lý, rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc, và xây dựng tự tin. Giai đoạn thứ hai (1 tuần trước) là giảm cường độ tập luyện, tập trung vào phục hồi thể chấtđiều chỉnh tâm lý. Giai đoạn thứ ba (2-3 ngày trước) là chuẩn bị tư tưởng, xem xét kỹ thuật, và **tăng cường tưởng tượng tích cực. Giai đoạn thứ tư (ngày thi đấu) là áp dụng các biện pháp điều chỉnh để duy trì trạng thái tâm lý tối ưu. Sự kết hợp giữa huấn luyện viên, các chuyên gia tâm lý, và hỗ trợ từ gia đình là yếu tố quan trọng để đảm bảo vận động viên Karatedo đạt được trạng thái tâm lý tốt nhất.

4.1. Giai đoạn chuẩn bị xa 2 3 tuần trước

Giai đoạn này tập trung vào tăng cường huấn luyện tâm lý thông qua bài tập thở, thiền định, tưởng tượng, và tập luyện áp lực. Vận động viên Karatedo nên xác định mục tiêu cụ thể cho kỳ thi đấu, phân tích đối thủ, và xây dựng chiến lược thi đấu để tăng cường sự chuẩn bị tâm lý.

4.2. Giai đoạn chuẩn bị gần 1 tuần đến ngày thi đấu

Tuần cuối cùng trước thi đấu, vận động viên Karatedo cần giảm cường độ tập luyện, tập trung vào phục hồi thể chấtổn định tâm lý. Các biện pháp điều chỉnh tâm lý như thở sâu, thiền định, tưởng tượng tích cực, và tự gợi dục tích cực nên được thực hiện thường xuyên để đảm bảo vận động viên bước vào sân thi đấu với tinh thần sẵn sàngtự tin tối đa.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, TDTT được xác định là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế ổn định xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy nhân tố con người. Chỉ thị 36CT/TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới của Ban bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng với khẩu hiệu: Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từng bước xây dựng lực lượng thể thao đỉnh cao… phấn đấu đạt vị trí xứng đáng trong các hoạt động thi đấu thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á…” [1]. Nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Đổi mới tổ chức, quản lý thể thao thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng môn và từng địa phương. Ưu tiên đầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo VĐV các môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng VĐV và các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Châu Á.

Bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực”. Định hướng công tác của ngành TDTT đã được Chính phủ thông qua cũng khẳng định: “Thể thao thành tích cao là một trong ba nhiệm vụ chiến lược trọng tâm của ngành nhằm mục tiêu nhanh chóng tiếp cận với trình độ thể thao khu vực, Châu lục và Thế giới…” [3], [76],[88]. Khi xác định mục tiêu đó, ngành TDTT cũng đã xây dựng các quan điểm và các giải pháp để phát triển nền thể thao nước nhà, trong đó một số môn thể thao đã được chọn làm trọng điểm mũi nhọn như: Bắn súng, Thể dục, 2 Cử tạ, Điền kinh, Bơi, Vật Boxing, Taekwondo, Karatedo… để tham dự các kỳ đại hội TDTT khu vực, Châu lục và Thế giới. Quan điểm và giải pháp trên của ngành đã được thực tiễn chứng minh một cách thuyết phục bằng những tấm huy chương vàng ở các môn trọng điểm này trong các cuộc thi đấu quốc tế.

Trong đó VĐV Karatedo đã có sự đóng góp đáng kể, điều đó càng khẳng định sự kế thừa truyền thống thượng võ của dân tộc ta trong các môn thể thao hiện đại. Dân tộc Việt Nam đã có lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước, có truyền thống chiến đấu chống giặc ngoại xâm từ ngàn đời nay. Từ thủa xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng võ nghệ để chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, đời này kế tiếp đời kia truyền cho nhau những môn phái võ như võ Tây Sơn, võ Bình Định, võ Nhất Nam, võ Dân Tộc, đồng thời tiếp thu và du nhập các môn phái võ của nước ngoài như võ Thiếu Lâm, Judo, Kiếm, Boxing, Karatedo, Wushu, Taekwondo, Pencaksilatvv… ngày càng làm phong phú thêm các môn phái võ của Việt Nam, giúp cho các thế hệ (hội nhập quốc tế) rèn luyện thể chất nâng cao sức khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc để sẵn sàng bảo vệ đất nước [20], [31], [36], [40]. Hưởng ứng lời kêu gọi tập thể dục của Bác Hồ ngày 27/3/1946 cả nước ta, đặc biệt là trong các lực lượng vũ trang và thanh thiếu niên cả nước, đã dấy lên một phong trào tập luyện TDTT nói chung và tập luyện võ nói riêng.

Ngành TDTT đã chọn ngày này là ngày thể thao Việt Nam. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhân dân ta vẫn phát huy truyền thống thượng võ đó vào trong việc rèn luyện thân thể, bảo vệ an ninh, quốc phòng và tham gia huấn luyện thể thao thành tích cao để thi đấu quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thực hiện tốt “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của Bác Hồ kính yêu, Ngành TDTT nước nhà có nhiều cố gắng trong xây dựng và nhân rộng phong trào rèn luyện thân thể trong các ngành, các tầng lớp Nhân dân, đồng thời trong đào tạo và thi đấu thể thao 3 thành tích cao VĐV của nước ta đã giành được nhiều thành tích thi đấu tại các giải khu vực, Châu Á và Thế giới. Thành tích đó đã góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống thượng võ của dân tộc, cố vũ động viên thế hệ trẻ nước nhà tích cực học tập, rèn luyện thân thể thực hiện sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

Đầu năm 2002 khi Việt Nam chính thức là nước chủ nhà đăng cai SEA Games 22, Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi thư chúc tết cho cán bộ, HLV, VĐV, Trọng tài ngành TDTT. “Nước ta đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Đông Nam Á SEA Games lần thứ 22, đây là một sự kiện chính trị, Văn hoá, Ngoại giao quan trọng, thể hiện tính đoàn kết hữu nghị, gắn bó giữa các dân tộc trong khu vực và trên Thế giới, thể hiện vị thế của đất nước, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam bước vào thế kỷ mới”. Nhận thức được vai trò của SEA Games 22 được tổ chức tại Việt Nam, Ngành TDTT đã có mở ra những hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế. Nâng cao và phát huy những môn thể thao trọng điểm và có truyền thống về thành tích như các môn võ, vật, trong đó có môn Karatedo.

Tuy các môn thể thao này mới du nhập vào Việt Nam trong một thời gian ngắn, song với truyền thống thượng võ của nhân dân ta, cộng với các tư chất thông minh lanh lợi và năng khiếu về võ của con người Việt Nam nên các môn võ đã được phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên cả nước. Các VĐV Việt Nam ở các môn võ này không những nhanh chóng nắm bắt được kỹ thuật và nâng cao trình độ để theo kịp với VĐV các nước khác trong khu vực mà còn dành được những thành tích vang dội ở các đại hội, SEA Games, ASIAD, Olympic và thế giới. Môn Karatedo đã dành được nhiều huy chương vàng, bạc, đồng ở các đại hội SEA Games, ASIAD và Thế giới. Trong đó có các VĐV nổi tiếng của làng Karatedo Việt Nam như: Phạm Hồng Hà (2 lần vô địch Châu Á, 3 lần vô địch SEA Games), Phạm Hồng Thắm, Trần Văn Thông, Hà Kiều Trang, 4 Nguyễn Trọng Bảo Ngọc, Vũ Kim Anh, Vũ Thị Nguyệt Ánh, Đặng Thị Hồng Nhung và Lê Bích Phương là những nhà vô địch Châu Á và SEA Games cùng nhiều võ sĩ khác.

Tại SEA Games 22 và SEA Games 23, đoàn thể thao Việt Nam đoạt tổng số 158 huy chương vàng trong đó các môn võ vật đạt đến 65 huy chương vàng chiếm hơn 1/3 trong tổ số bộ huy chương riêng Karatedo đạt 17 huy chương vàng. Trong thể thao hiện đại, song song với việc chuẩn bị về kỹ chiến thuật thể lực, việc chuẩn bị tâm lý thi đấu cho VĐV đã ngày càng được coi trọng. Đặc biệt trong thể thao hiện đại khi trình độ kỹ thuật và thể lực giữa các VĐV không có sự khác biệt đáng kể thì các yếu tố tâm lý sẽ đóng vai trò quyết định thắng, bại trong mỗi trận thi đấu. Nhiều nhà tâm lý đã cho rằng “yếu tố tâm lý quyết định 50% thắng bại ở những trận đấu then chốt”.

Hoạt động tập luyện và thi đấu thể thao diễn ra trong điều kiện hết sức căng thẳng cả về thể lực lẫn tâm lý; Nếu chuẩn bị tâm lý cho VĐV không tốt sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tập luyện và thi đấu. Đặc biệt trong thể thao hiện đại khi mà trình độ kỹ thuật và thể lực giữa các VĐV không có sự khác biệt đáng kể thì các yếu tố tâm lý sẽ đóng vai trò thắng bại trong thi đấu. Thực tiễn thể thao đã chứng minh trong thi đấu nhiều VĐV có trình độ chuyên môn tốt nhưng đã không thể hiện được hết khả năng chuyên môn của mình trong các cuộc thi đấu quan trọng; Một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thi đấu, đó là trạng thái tâm lý của VĐV trước và trong quá trình thi đấu. Các kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia tâm lý thể thao hàng đầu của thế giới như P.A Rudich, AX Pu Nhi (Nga), Hall, Hanin, Hinman Jackốp, Orlick.

cũng như các Chuyên gia tâm lý thể thao Việt Nam như Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem, Nguyên Duy Phát, Nguyễn Toán đều khẳng định vai trò quan trọng của trạng thái tâm lý trước thi đấu các 5 môn thể thao nhất là các môn thi đấu cá nhân mang tính chất đối kháng trực tiếp như Kiếm, Boxing, Karatedo, Taekwondo và Pencaksilat. Theo quan điểm của các nhà tâm lý thể thao: do đối kháng tích cực của đối phương tạo nên tính đối lập (mẫu thuẫn) trực tiếp giữa ý nghĩa của VĐV (mối liên hệ trực tiếp) và thông tin ngược về kết quả là (mối liên lệ phản hồi) tạo nên sự đối lập về cảm xúc trong hoạt động tâm lý và luôn luôn mang tính xung đột (hưng phấn hay ức chế) trong hoạt động thi đấu, nhất là trong các cuộc thi đấu quan trọng. Tính đối kháng này là một trong những nhân tố tạo ra các trạng thái tâm lý khác nhau ở VĐV. Chỉ khi nào VĐV có được các phẩm chất tâm lý cần thiết và kỹ năng tự điều chỉnh tốt nhằm khắc phục các trạng thái tâm lý xấu để đưa trạng thái tâm lý trở về trạng thái tâm lý tối ưu (trạng thái sẵn sàng thi đấu) thì mới đạt được hiệu quả thi đấu mong muốn.

Qua nhiều năm liên tục theo dõi các VĐV Karatedo thi đấu tại các giải toàn quốc và quốc tế, cũng như qua phỏng vấn các chuyên gia trong và ngoài nước của môn Karatedo và hàng trăm VĐV Karatedo cấp cao chúng tôi nhận thấy: trước và trong thi đấu, các VĐV ở môn võ Karatedo thường có các trạng thái tâm lý như hưng phấn hoặc ức chế ở các mức độ khác nhau gây nên các trở ngại tâm lý làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi đấu của họ. Đặc biệt là ở các cuộc thi đấu quan trọng như Seagames và Asiad. Chúng tôi nhận thấy nhiều VĐV trong tập luyện đã được các HLV đánh giá đạt được trình độ chuyên môn và thể lực tốt, song khi ra thi đấu lại có biểu hiện trạng thái tâm lý như ý chí bị giảm sút, tư duy thiếu logic, tốc độ của quá trình tư duy chậm, năng lực vận động cũng như kỹ, chiến thuật, thể lực bị sa sút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ