CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ MÔI TRƯỜNG 1. Các khái niệm cơ bản a) Khái niệm về môi trường Trong cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ môi trường được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trên nhiều lĩnh vực, ví dụ như môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa,…Qua đó, có thể thấy “môi trường” là một khái niệm rất rộng với nhiều cách định nghĩa khác nhau, cụ thể như sau: - Nhà địa lý học và học giả Liên Xô S.Kalesnik (1959, 1970) định nghĩa "Môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người"2. Hay ngắn gọn hơn, “môi trường là tất cả những gì bao quanh con người” - Về mặt pháp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BVMT năm 2020, “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”. Như vậy, theo cách định nghĩa của Luật BVMT năm 2020 thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ và thành phần tạo nên môi trường là các yếu tố vật chất gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.
Từ những định nghĩa trên, nhận thấy môi trường không chỉ là không gian sống và nguồn cung cấp tài nguyên cho con người, mà còn có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật và sự phát triển đất nước, là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người và một cách cô đọng nhất thì môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người. 2 Vũ Ngọc Hà (2019), Thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 Hiện nay, gắn với sự phát triển bền vững của cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vấn đề BVMT đã trở thành một nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của cả toàn xã hội. BVMT là sự nghiệp của toàn dân.
Mọi tổ chức cá nhân có trách nhiệm BVMT, thực hiện trách nhiệm BVMT, thực hiện pháp luật BVMT. Hiện thực hóa quan điểm trên, Hiến pháp được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 28 tháng 11 năm 2013 đã ghi nhận rất nhiều nội dung liên quan đến BVMT. Cụ thể, tại Điều 43 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT”. Việc quy định tại điều 43 (chương II quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) đã khẳng định quyền được sống trong môi trường trong lành cũng như nghĩa vụ BVMT của mọi người.
Khi Nhà nước ghi nhận quyền trên cũng có nghĩa là Nhà nước ghi nhận trách nhiệm của mình trong việc BVMT. Qua đó, có thể thấy rằng, vấn đề về môi trường đang ngày được Đảng và Nhà nước quan tâm và dần được cụ thể hóa tại Hiến pháp và hoàn chỉnh trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. b) Khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính Những hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ gọi là VPHC. VPHC tuy không nguy hiểm bằng tội phạm song diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như cộng đồng xã hội.
VPHC là cơ sở thực tế của trách nhiệm hành chính. Nói cách khác, hệ quả tất yếu của việc thực hiện VPHC là phải gánh chịu trách nhiệm hành chính. Việc truy cứu trách nhiệm hành chính đối với chủ thể vi phạm gọi là xử phạt VPHC. Cụ thể, “xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, BPKPHQ đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC”3.
Đây được xem là định nghĩa chính thức đầu tiên về xử phạt VPHC được ghi nhận trong Luật, bởi lẽ, Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995 hay Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 không định nghĩa một cách cụ thể khái niệm này mà chỉ dừng tại mức khái quát đối tượng và phạm vi áp dụng xử phạt VPHC4. 3 Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012. 4 khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995 ghi nhận “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 tiếp tục khẳng định: “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có 8 c) Khái niệm về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính Mặc dù mức độ nguy hiểm cho xã hội không bằng tội phạm, nhưng VPHC là loại vi phạm rất phổ biến, diễn ra rất phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng và gây thiệt hại cho Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Do đó, “Xử lý VPHC nói chung và xử phạt VPHC nói riêng là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của Nhà nước. Đây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến đời sống nhân dân, có ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”5. Theo đó, qua quy định của khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), có thể hiểu, xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng cả hình thức xử phạt và BPKPHQ đối với cá nhân, tổ chức vi phạm; và BPKPHQ được hiểu là một biện pháp cưỡng chế bên cạnh các hình thức xử phạt quy định tại Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Khái niệm xử phạt nói tại khoản 2 Điều này sẽ không chính xác khi rơi vào các trường hợp không ra quyết định xử phạt quy định tại Điều 65 Luật Xử lý VPHC năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nhưng vẫn áp dụng BPKPHQ6.
Trong các trường hợp này chỉ ra quyết định áp dụng BPKPHQ nếu luật có quy định và nếu xét thấy cần thiết chứ không phải là xử phạt vi phạm. Như vậy, áp dụng các BPKPHQ có thể nằm trong khái niệm xử phạt nhưng cũng có thể nằm ngoài khái niệm xử phạt. Vì vậy, nên hiểu xử phạt VPHC bao gồm việc áp dụng các hình thức xử phạt và BPKPHQ nếu không rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 65, còn nếu chỉ áp dụng các BPKPHQ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 65 thì không nên gọi là xử phạt VPHC. Khoa học pháp lý cũng tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về BPKPHQ.
Cụ thể, “BPKPHQ có thể được hiểu là việc người có hành vi VPHC sử dụng các biện hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. 5 “Tờ trình của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý VPHC năm 2012”, https://duthaoonline.vn/Pages/dsduthao/chitietduthao. 6 Cụ thể là các trường hợp: Không xác định được đối tượng VPHC; Hết thời hiệu xử phạt VPHC quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này; Cá nhân VPHC chết, mất tích, tổ chức VPHC đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt; Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 62 của Luật này. 9 pháp theo quy định của pháp luật nhằm hạn chế hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu do hành vi VPHC của mình gây ra”7.
Đối với cách định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rõ ý nghĩa của BPKPHQ là “nhằm hạn chế hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu do hành vi VPHC của mình gây ra”. Tuy nhiên, về mặt chủ thể thực hiện và ý nghĩa lý luận thì chưa thể hiện đầy đủ; bởi lẽ, BPKPHQ không chỉ do người có hành vi VPHC thực hiện mà còn được tiến hành bởi tổ chức VPHC hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và mang bản chất là sự cưỡng chế của Nhà nước. Quan điểm khác lại cho rằng: “BPKPHQ là hình thức cưỡng chế do Nhà nước tiến hành, buộc cá nhân, tổ chức VPHC phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định nhằm khôi phục một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại do VPHC gây ra”8. Đối với cách định nghĩa này, thể hiện rõ bản chất của các BPKPHQ là hình thức cưỡng chế do Nhà nước tiến hành và mục đích cơ bản là “khôi phục một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại do VPHC gây ra”.
Tuy nhiên, khái niệm trên vẫn còn một số khía cạnh chưa toàn diện, bởi vì BPKPHQ không chỉ có mục đích là khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc tình trạng ban đầu mà VPHC gây ra mà còn có ý nghĩa phòng ngừa, hạn chế tác hại, hậu quả của hành vi VPHC. Để hiểu một cách triệt để hơn bản chất và ý nghĩa của các BPKPHQ, thiết nghĩ trước hết cần làm rõ hậu quả nói trong Luật được hiểu như thế nào. Qua các BPKPHQ được quy định trong Luật có thể thấy có hậu quả về vật chất đong, đo, đếm được và hậu quả về tinh thần (không định lượng được). Hậu quả không đồng nghĩa với thiệt hại (vật chất hoặc tinh thần).
Vì vậy khắc phục hậu quả bao gồm hậu quả dạng thiệt hại vật chất hoặc tinh thần nhưng cũng có những hậu quả gây ra cho Nhà nước và xã hội nói chung. Chẳng hạn, xây dựng trái phép gây thiệt hại cho trật tự quản lý nhà nước là chủ yếu chứ không gây thiệt hại vật chất cho cá nhân hay tổ chức cụ thể nào.