Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quản lý nhà nước, xử phạt vi phạm hành chính giữ vai trò trung tâm nhằm bảo đảm kỷ cương pháp luật, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi trái pháp luật. Thực tiễn cho thấy hành vi vi phạm hành chính không chỉ xâm hại trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước mà còn làm thay đổi hiện trạng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Xuất phát từ nguyên tắc được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: "Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật", việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là yêu cầu bắt buộc bên cạnh các hình thức xử phạt chính và xử phạt bổ sung.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy khung khổ pháp lý điều chỉnh biện pháp khắc phục hậu quả còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Tồn tại sự nhầm lẫn giữa biện pháp khắc phục hậu quả với hình thức xử phạt và trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự.
  • Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại các nghị định xử phạt chuyên ngành có biểu hiện mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  • Quy trình, thủ tục thi hành và cưỡng chế thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả còn thiếu khả thi, đặc biệt trong các trường hợp đối tượng vi phạm không tự nguyện chấp hành hoặc vi phạm xảy ra ở những địa bàn đặc thù.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Huỳnh Lê Phước Thọ (Trường Đại học Tây Đô, 2020) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế nhằm bảo đảm hiệu lực cưỡng chế thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả ở Việt Nam.
  2. Phân tích những vấn đề mang tính chất lý luận về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính.
  3. Làm rõ những vấn đề pháp lý về biện pháp khắc phục hậu quả, chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành.
  4. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chỉ ra các tồn tại trong thực thi.
  5. Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (trọng tâm là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành) cùng thực trạng áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở góc độ pháp luật hành chính điều chỉnh biện pháp khắc phục hậu quả và thực tiễn thi hành từ khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực đến năm 2020.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý nền tảng của Luật Hành chính Việt Nam và kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học tiêu biểu:

  • Sách chuyên khảo Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên, 2015).
  • Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam (Nguyễn Cửu Việt, 2010, 2013; Trần Minh Hương chủ biên, 2012).
  • Bài viết Đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính - Một số bất cập và hướng hoàn thiện (Thái Thị Tuyết Dung, Nguyễn Nhật Khanh, 2017).
  • Đề tài Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả - Lý luận và thực tiễn (Huỳnh Phương Thúy Hằng, 2013).
  • Các bài viết học thuật của Quách Tiên Phong (2007), Nguyễn Văn Cương (2008).

Phương pháp luận chỉ đạo công trình là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng làm phương pháp chủ đạo để mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm pháp luật, thẩm quyền, thủ tục và tổng hợp đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định qua các thời kỳ phát triển của pháp luật xử lý vi phạm hành chính Việt Nam (giai đoạn 1977, 1989, 1995, 2002 và 2012), đồng thời đối chiếu giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính với các nghị định chuyên ngành và các đạo luật liên quan (Bộ luật Dân sự 2015, Luật Bảo vệ môi trường).
  • Phương pháp thống kê: Tập hợp, phân loại các quy định pháp luật hiện hành và số liệu báo cáo thực tiễn từ Báo cáo số 15/BC-BTP (2016), Báo cáo số 09/BC-BTP (2018) của Bộ Tư pháp, cùng các báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai.
Giai đoạn pháp lý Văn bản điều chỉnh Tên gọi và đặc điểm quy định về khắc phục hậu quả
Trước năm 1989 Nghị định số 143-CP (27/05/1977) Chưa quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với các vi phạm phạt vi cảnh.
1989 - 1995 Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1989 Điều 12 quy định "những biện pháp hành chính khác" (khôi phục tình trạng ban đầu, tháo dỡ công trình, tiêu hủy văn hóa phẩm độc hại, buộc bồi thường đến 100.000 đồng).
1995 - 2002 Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 1995 Sử dụng thuật ngữ "biện pháp", chuẩn hóa biện pháp buộc thực hiện khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh thay cho việc đình chỉ hoạt động.
2002 - 2012 Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 Lần đầu tiên chính thức thiết lập tên gọi độc lập "biện pháp khắc phục hậu quả".
Từ 2012 đến nay Luật Xử lý VPHC năm 2012 Định danh 9 nhóm biện pháp do Quốc hội quy định và ủy quyền cho Chính phủ quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác tại các nghị định chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính

Chương 1 làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đặc điểm và lược sử hình thành của chế định biện pháp khắc phục hậu quả, đi sâu phân tích hệ thống quy định hiện hành trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: "Biện pháp khắc phục hậu quả là hình thức cưỡng chế do Nhà nước tiến hành, buộc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định nhằm khôi phục một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra". Biện pháp này mang đầy đủ các đặc điểm của cưỡng chế hành chính (mang tính quyền lực nhà nước, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng, tuân thủ thủ tục hành chính), đồng thời sở hữu các đặc điểm riêng biệt:

  • Nhằm mục đích khôi phục tình trạng ban đầu hoặc quyền lợi bị xâm phạm (khác với hình thức xử phạt là tước đoạt hoặc hạn chế quyền tài sản, nhân thân của người vi phạm).
  • Được quy định đa tầng: bao gồm 9 nhóm biện pháp do Quốc hội quy định (từ Điểm a đến Điểm i Khoản 1 Điều 28) và các biện pháp khác do Chính phủ quy định trong nghị định chuyên ngành (Điểm k Khoản 1 Điều 28).
  • Tính bất đối xứng trong thẩm quyền: không phải mọi chức danh có quyền xử phạt đều có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (chiến sĩ Công an nhân dân, Đội trưởng Chi cục Hải quan, Trạm trưởng Kiểm lâm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả).
  • Quy định về thời hiệu: theo Khoản 2 Điều 65, khi hết thời hiệu xử phạt hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn được ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Về nguyên tắc áp dụng: Một hành vi vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả; việc áp dụng không phụ thuộc vào hình thức lỗi (cố ý/vô ý) hay tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Riêng đối với người chưa thành niên, Khoản 2 Điều 135 giới hạn nghiêm ngặt chỉ được áp dụng 4 biện pháp luật định.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính về biện pháp khắc phục hậu quả và giải pháp hoàn thiện

Chương 2 tập trung phân tích các mâu thuẫn quy phạm, rào cản thực thi và đề xuất giải pháp đồng bộ. Tác giả chỉ rõ 4 nhóm bất cập pháp lý chủ yếu:

  • Mâu thuẫn quy định thẩm quyền và hành chính hóa quan hệ dân sự: Một số nghị định quy định thẩm quyền áp dụng vượt quá hoặc không tương thích với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (như trường hợp Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tại Nghị định 27/2017/NĐ-CP và Nghị định 119/2017/NĐ-CP). Đồng thời, việc một số nghị định hành chính hóa nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (vốn thuộc thẩm quyền Tòa án theo Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Bảo vệ môi trường) đã tạo ra sự chồng chéo giữa thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng dân sự.
  • Bất cập trong quy định cưỡng chế thi hành: Khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 xếp "buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả" là một biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt là chưa thỏa đáng về mặt lý luận. Cưỡng chế thi hành phạt tiền nhằm thu tiền vào ngân sách nhà nước, trong khi buộc thực hiện khắc phục hậu quả là bảo đảm việc khôi phục hiện trạng trật tự quản lý. Việc thiếu chế tài đối với các nghĩa vụ hành vi phi tài sản (như buộc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng, buộc trả lại giấy tờ/chứng chỉ cho người lao động) làm vô hiệu hóa khả năng cưỡng chế trên thực tế.
  • Vướng mắc về thủ tục xử phạt tại chỗ (không lập biên bản): Theo Điều 56 và Điều 68, trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng (cá nhân) / 500.000 đồng (tổ chức) được xử phạt tại chỗ và quyết định xử phạt phải ghi rõ biện pháp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt tại chỗ (như chiến sĩ Công an nhân dân xử phạt hành vi phơi thóc, lúa trên đường bộ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP) lại không được trao quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, triệt tiêu tính nhanh chóng, dứt điểm của thủ tục này.
  • Thiếu quy định dẫn chiếu chế tài: Nhiều nghị định liệt kê tên biện pháp khắc phục hậu quả tại điều khoản chung nhưng ở các điều khoản quy định hành vi vi phạm cụ thể lại không quy định chế tài áp dụng tương ứng (ví dụ Nghị định số 103/2013/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định số 41/2017/NĐ-CP trong lĩnh vực thủy sản quy định biện pháp cứu hộ thủy sinh quý hiếm nhưng không gắn với hành vi vi phạm nào).

Về thực trạng áp dụng, khóa luận phân tích các hạn chế: chủ thể có thẩm quyền bỏ quên hoặc không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vướng thẩm quyền (như vụ việc xử phạt chiếm đất phi nông nghiệp theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP thuộc thẩm quyền UBND xã nhưng buộc trả lại đất lại thuộc UBND cấp huyện); cưỡng chế khôi phục tình trạng ban đầu bất khả thi ở địa bàn miền núi, vùng cao đối với đất canh tác; quyết định xử phạt áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả một cách tùy tiện, không ghi rõ biện pháp cụ thể.

Kết quả và đóng góp

Nhóm nội dung Kết quả trích xuất từ văn bản khóa luận
Phát hiện thực trạng - Khẳng định 90% các biện pháp áp dụng trong thực tiễn tại địa phương thuộc nhóm "các biện pháp khác do Chính phủ quy định" (theo Báo cáo 15/BC-BTP năm 2016).
- Tình trạng bỏ quên biện pháp khắc phục hậu quả hoặc đùn đẩy hồ sơ do phân định thẩm quyền không đồng bộ giữa cấp xã và cấp huyện trong xử lý vi phạm đất đai, xây dựng.
- Công tác theo dõi, cưỡng chế thi hành còn yếu do lực lượng mỏng và người vi phạm không tự giác (theo Báo cáo số 09/BC-BTP năm 2018).
Giải pháp hoàn thiện pháp luật - Xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để xác định rõ thế nào là "tình trạng ban đầu", quy định rõ trách nhiệm hướng dẫn, giám sát của cơ quan quản lý.
- Rà soát, bóc tách triệt để giữa biện pháp "buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu" và biện pháp "buộc tháo dỡ công trình xây dựng không phép/sai phép".
- Thống nhất tên gọi chuẩn hóa "buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn" trong tất cả các nghị định chuyên ngành; bổ sung quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, hình thức và thời hạn cải chính công khai.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng - Phát huy tính chủ động, sáng tạo của cơ quan quản lý trong việc lựa chọn biện pháp phù hợp với tính chất vi phạm và điều kiện thực tế của đối tượng.
- Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trách nhiệm công vụ, xử lý nghiêm tình trạng tùy tiện bỏ qua biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc hoặc tự ý rút ngắn thời hạn thi hành.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đó, không dừng lại ở mức độ bình luận điều luật thuần túy mà đi sâu đánh giá sự xung đột giữa văn bản luật và hệ thống nghị định chuyên ngành, đồng thời gắn liền lý luận với các vướng mắc thực thi tại cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ công trình tốt nghiệp đại học ngành Luật Kinh tế, do đó phạm vi nghiên cứu còn tồn tại một số giới hạn:

  • Các đánh giá thực tiễn chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp (giai đoạn 2015 - 2018) và một số địa phương (Sóc Trăng, Lào Cai), chưa tiến hành khảo sát thực địa diện rộng tại tất cả các tỉnh thành.
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thực định của Việt Nam, chưa mở rộng so sánh chuyên sâu với kinh nghiệm pháp luật quốc tế về cưỡng chế phục hồi trạng thái ban đầu trong luật hành chính các quốc gia phát triển.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung đánh giá tác động của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (ban hành sau năm 2020) đối với việc tháo gỡ các vướng mắc về thẩm quyền và quy trình cưỡng chế nghĩa vụ hành vi phi tài sản.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật và Luật Kinh tế: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về Luật Hành chính, học phần Xử lý vi phạm hành chính; tham khảo cấu trúc phân tích quy phạm và phương pháp so sánh luật học qua các thời kỳ.
  • Cán bộ thực thi công vụ: Cung cấp góc nhìn thực tiễn cho cán bộ tư pháp, thanh tra chuyên ngành, lãnh đạo UBND cấp xã và cấp huyện trong việc rà soát thẩm quyền, lập biên bản và ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bảo đảm tính hợp pháp, tránh nguy cơ bị khiếu nại hoặc hủy bỏ quyết định.

Câu hỏi thường gặp

1. Người chưa thành niên vi phạm hành chính có thể bị áp dụng những biện pháp khắc phục hậu quả nào? Theo Khoản 2 Điều 135 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người chưa thành niên chỉ bị áp dụng 4 biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể: (a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; (c) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm độc hại; (d) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp hoặc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật. Người có thẩm quyền không được áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định đối với đối tượng này.

2. Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì có được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không? Có. Căn cứ Khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khi hết thời hiệu xử phạt hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn có quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức vi phạm.

3. Vì sao việc xếp "buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả" là biện pháp cưỡng chế thi hành tại Điểm d Khoản 2 Điều 86 bị xem là bất cập? Bởi vì về bản chất lý luận, biện pháp khắc phục hậu quả là một hình thức cưỡng chế hành chính nội hàm nằm trong quyết định xử phạt, không phải là biện pháp bảo đảm thi hành thu tiền như khấu trừ lương hay kê biên bán đấu giá tài sản quy định tại các Điểm a, b, c cùng điều luật. Việc xếp chung gây lúng túng về mặt thủ tục và nguyên tắc áp dụng cưỡng chế lũy tiến theo Nghị định số 166/2013/NĐ-CP.

4. Thủ tục xử phạt không lập biên bản đang gặp trở ngại gì khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả? Luật quy định xử phạt tại chỗ (phạt tiền đến 250.000 đồng với cá nhân) phải ghi rõ biện pháp khắc phục hậu quả trong quyết định, nhưng các chức danh trực tiếp xử phạt tại chỗ (như chiến sĩ Công an nhân dân) lại không được pháp luật trao thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Điều này dẫn đến tình trạng không thể xử lý nhanh và dứt điểm vi phạm tại hiện trường.

5. Thuật ngữ "biện pháp khắc phục hậu quả" lần đầu tiên được định danh chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam? Thuật ngữ này lần đầu tiên được thiết lập và định danh chính thức trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành (trước đó Pháp lệnh 1989 gọi là "những biện pháp hành chính khác", Pháp lệnh 1995 gọi chung là "biện pháp").

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Lê Phước Thọ đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quá trình phát triển pháp lý của chế định biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ các xung đột quy phạm giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 với các nghị định chuyên ngành về thẩm quyền, thủ tục xử phạt tại chỗ và cơ chế cưỡng chế nghĩa vụ phi tài sản. Các nhóm giải pháp hoàn thiện tiêu chí xác định hiện trạng, chuẩn hóa tên gọi biện pháp và tăng cường trách nhiệm công vụ được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác lập pháp và áp dụng pháp luật hành chính.