MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện lộ trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2010-2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Thực tế cho thấy, trong hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, thì quản lý hiệu quả nguồn tài chính trở thành một nhiệm vụ trọng tâm và rất cần thiết, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng cung cấp dịch vụ của đơn vị. Đồng thời, quản lý tài chính tác động đến thu nhập của cán bộ, nhân viên trong đơn vị.
Công tác quản lý nguồn tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội, góp phần quản lý chặt chẽ các nguồn thu từ ngân sách nhà nước, từ viện trợ hay từ sản xuất kinh doanh của đơn vị, trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả hoạt động của đơn vị. Công tác này cũng góp phần tạo khuôn khổ chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính, làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán tại đơn vị; Đảm bảo được nguồn tài chính cho hoạt động của đơn vị, từ đó đưa ra những kế hoạch, định hướng phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn của sự phát triển.
Ngoài ra, việc quản lý cũng giúp cho các khoản chi được thực hiện theo đúng kế hoạch, đạt hiệu quả hoạt động cao đồng thời tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện để tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cũng như nhiều đơn vị sự nghiệp công lập khác trong cả nước, việc thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo được những thay đổi đáng kể trong nhận thức của cán bộ, nhân viên trong 2 Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng. Qua đó tạo tính tự chủ cho đơn vị trong việc ra các quyết định, trong đó có các quyết định tài chính, mang tính chủ động và sát với thực tiễn hơn, thu được hiệu quả cao hơn. Cụ thể, Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng đã thực hiện đầy đủ cơ chế quản lý tài chính, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ ngày một tốt hơn.
Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính đối với Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng, hiện vẫn còn nhiều bất cập, khó khăn trong công tác quản lý tài chính đó là: - Với sự phát triển của xã hội, vừa phải đảm bảo an sinh xã hội, vừa phải đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên trong điều kiện NSNN cấp ngày càng phải tiết kiệm. Từ đó đặt ra cho Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng phải thực hiện nhiều vấn đề từ cơ chế quản lý đến sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực tài chính. - Thực hiện tự chủ tài chính, yêu cầu Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng phải tích cực tiết kiệm chi thông qua việc xây dựng định mức chi tiêu và thực hiện quản lý tài chính. Trong bối cảnh đó, rất cần thiết phải có sự cải tiến, hoàn thiện công tác quản lý tài chính hiệu quả tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng nói riêng.
Xuất phát từ nhận thức về cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài “Một số biện pháp hoàn thiện công tác Quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng” để thực hiện luận văn thạc sĩ. Mục tiêu nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu của luận văn là vận dụng những cơ sở lý luận về quản lý tài chính, phân tích, đánh giá thực trạng của công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2017, trên 3 cơ sở đó đề xuất một số biện pháp pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2020. - Hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận về quản lý tài chính và nội dung của công tác quản lý tài chính trong cơ quan hành chính Nhà nước. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng trong thời gian qua để tìm ra những vấn đề tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý tài chính của đơn vị giai đoạn 2013 – 2017.
- Đề ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng tới năm 2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý tài chính công trong cơ quan hành chính Nhà nước của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Là công tác quản lý tài chính công tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2017, những biện pháp đề xuất cho giai đoạn 2018 - 2020. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp biện chứng, phương pháp thống kê, tổng hợp tài liệu, phân tích, đánh giá, phương pháp tư duy hệ thống, mô hình hóa trong quá trình thực hiện.
Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của đề tài Về mặt khoa học: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài chính công và công tác quản lý tài chính trong cơ quan hành chính Nhà nước. Về mặt thực tiễn: Luận văn đã đi sâu đánh giá thực trạng tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2017. Trên cơ sở đó luận văn đã đề ra một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Giáo dục Lao động số 2 Hải Phòng tới năm 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH CÔNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.
Cơ sở lý luận về tài chính công 1. Khái niệm về tài chính công Tài chính công là một khái niệm hiện đại bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế của các quốc gia từ những năm đầu thế kỷ XX. Nhưng sự thay đổi có tính bước ngoặt về khái niệm tài chính công diễn ra vào những năm 30 của thế kỷ XX gắn với mối quan hệ về thiếu hụt ngân sách Nhà nước và trong các mối liên quan với các bộ phận cấu thành tài chính công. Sự phát triển lý luận kinh tế học ở các nước phát triển và thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế dẫn đến phải đánh giá lại một số nguyên tắc được áp dụng trong lĩnh vực tài chính công như: sự phối hợp các công cụ của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, các vấn đề về thâm hụt hoặc bội thu ngân sách Nhà nước, làm sao ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động của tài chính công, vận dụng ngân sách chu kỳ và ngân sách cơ cấu như thế nào.
Ở Việt Nam, khái niệm tài chính công xuất hiện trong thời kỳ đổi mới kinh tế từ năm 1989 cho đến nay và gắn liền với quá trình đổi mới quản lý tài chính vĩ mô, đổi mới hoạt động của khu vực công. Để xác định khái niệm Tài chính công cần phải điểm qua các quan điểm của các nhà kinh tế về Tài chính công và các khái niệm có liên quan. Các nhà kinh tế bằng các quan điểm tiếp cận với những phương pháp khác nhau và ngay từ đầu để tiếp cận với khái niệm tài chính công, các nhà kinh tế đã đề cập đến hai lĩnh vực đan xen nhau là tài chính công và khu vực công. Định nghĩa về tài chính công có thể được tìm thấy trong tác phẩm của A.Smith, trong đó về nguyên tắc A.Smith xuất phát từ hệ thống kinh tế gia đình và nguyên tắc này được rút ra vận dụng cho tài chính công, mà trước hết là cho ngân sách Nhà nước (hàng năm Ngân sách Nhà nước phải cân đối và tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản).
Tài chính công là một khái 5 niệm hiện đại xác định các quan hệ kinh tế và tài chính phát sinh trong hệ thống kinh tế giữa các chủ thể công quyền (Cơ quan, đơn vị) và các chủ thể khác (doanh nghiệp, hộ gia đình, công dân, các tổ chức phi lợi nhuận). Khái niệm tài chính công với nghĩa rộng được sử dụng một cách đối lập với khái niệm tài chính “tư”. Tài chính công phản ảnh các hoạt động của tài chính Nhà nước được thể hiện bằng các quan hệ tiền tệ nảy sinh trong mối quan hệ với sự hình thành và phân phối các quỹ tiền tệ. Theo các nhà kinh tế Pháp thì tài chính công có thể hiểu theo cách đơn giản là:“Nghiên cứu của tài chính công chính là quản lý tài chính của cơ quan hành chính Nhà nước” [22].
Về mặt luật pháp thì Nhà nước, các pháp nhân công quyền, các đơn vị hành chính Trung ương và địa phương, các đơn vị hành chính bảo đảm xã hội và các đơn vị công quyền là chủ thể của tài chính công. Thời đại hiện nay, trong khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế có thể xem xét khái niệm tài chính công từ một số góc độ: - Xét theo quan hệ giữa quốc gia và quốc tế: Đứng trên góc độ quốc gia: Tài chính công bao gồm các bộ phận cấu thành như: ngân sách Nhà nước tín dụng Nhà nước, các quỹ quốc gia. Đứng trên góc độ quốc tế: Tùy thuộc vào khái niệm tài chính công người ta còn có thể kể tới ngân sách Nhà nước của các nước trong khối liên minh trên thế giới như: Liên minh châu Âu. - Xét theo tính chủ thể trong quan hệ tài chính công: Các chủ thể của tài chính công và giữa các pháp nhân là chủ thể của tài chính công phải bảo đảm theo chuẩn mực của kế toán quốc gia.