CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÂN SỰ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường. [4] Việc tổ chức quá trình sản xuất thông qua hình thức doanh nghiệp thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi.
Tuy nhiên, việc tổ chức sản xuất theo kiểu nói trên thường làm phát sinh những chi phí giao dịch lớn. Những bất lợi như vậy có thể được khắc phục nếu như một tổ chức kiểu doanh nghiệp, tồn tại như một thực thể có tư cách pháp lý độc lập với các cá nhân, xuất hiện. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Phân loại doanh nghiệp [4] Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014, xét về hình thức pháp lý doanh nghiệp có các loại công ty như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân.
* Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 5 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. * Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn * Công ty cổ phần Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định không được phép/hạn chế chuyển nhượng.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. * Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
* Doanh nghiệp tư nhân 6 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Thị trường được hiểu là nơi mua bán hàng hoá, là một quá trình trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định số lượng và giá cả hàng, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng bằng tiền trong một thời gian và không gian nhất định. Bởi vậy khi nói đến thị trường người ta phải bao gồm ba yếu tố chính đó là: người bán, nhu cầu có khả năng thanh toán và giá cả.
Trong cơ chế thị trường, các tổ chức kinh doanh, các nhà kinh doanh đều được quyền chủ động quyết định trong sản xuất kinh doanh, chủ động về vốn, công nghệ và lao động. Trong sản xuất kinh doanh tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi trong hoạt động kinh doanh của mình. Việc tìm ra thị trường ổn định của mình là hết sức quan trọng mang tính chất sống còn của doanh nghiệp, nên doanh nghiệp phải hết sức năng động và nhạy bén trong mọi quyết định kinh doanh. Những năm tới, với sự công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước được đẩy mạnh, ngành thương mại phục vụ một cách đắc lực bằng lực lượng vật chất của mình, đồng thời, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng tạo ra những tiền đề để đảm bảo hàng hoá ngày càng đa dạng, phong phú, hiện đại để mở rộng và phát triển không ngừng thị trường và quy mô của lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân.
Công tác quản lý nhân sự tại doanh nghiệp 1. Khái niệm về công tác quản lý [3] Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định, song lâu nay thờng có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và đợc thể hiện bằng các thuật ngữ khác nhau. Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì?) cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, với 7 sự phát triển của khoa học quản lý, vấn đề đã cơ bản đợc làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất.
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi loại hoạt động. Nó phát sinh từ sự phân công lao động xã hội, cần thiết phải phối hợp hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Khái niệm về nhân sự Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.[9] Nhân sự trong một tổ chức có vai trò quan trọng, bất kỳ tổ chức nào hoạt động cũng cần phải liên quan đến con người trong tổ chức, không một tổ chức nào có thể tách con người ra khỏi hoạt động của tổ chức. Con người vừa là một yếu tố tham gia cấu thành nên tổ chức, vừa là chủ thể trong các quá trình hoạt động của tổ chức.
Khái niệm về công tác quản lý nhân sự Quản lý nhân sự là cách mà nhà quản lý sử dụng và khai thác nguồn nhân lực trong tổ chức có định hướng, có mục đích, có kế hoạch sao cho đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Quản lý nguồn nhân lực đúng cách sẽ đẩy mạnh sự phát triển lớn mạnh của tổ chức doanh nghiệp. Điều đó chứng tỏ mỗi thành viên cá nhân đều đóng góp một phần không nhỏ trong toàn tổ chức. Quản lý nhân sự đặt ra yêu cầu cho nhà quản lý phải có trình độ năng lực tầm hiểu biết sâu rộng về nhiều khía cạnh khác nhau tuy nhiên vẫn lấy con người làm trung tâm.
Tất cả các kỹ năng quản lý nhân sự của nhà quản lý đều hướng những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan để không làm lãng phí nguồn nhân lực một cách không đáng có. Ngày 8 nay xã hội ngày một đi lên thì như cầu và chất lượng của quản lý ngày càng được quan tâm đề cao. Quản lý nhân sự phải được xem xét đánh giá theo một quan điểm hệ thống chặt chẽ. Các bước từ xác định nguồn nhân sự, tuyển chọn đầu vào, bố trí công việc, đào tạo và bồi dưỡng đè bạt và cuối cùng là đánh giá nhân viên v.
cần được thực hiện sao cho khoa học. Đặc điểm về công tác quản lý nhân sự tại doanh nghiệp Nhân sự là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp, tổ chức. Mục tiêu của quản lý nhân sự cơ bản trong doanh nghiệp là thu hút, lôi cuốn những người giỏi về với doanh nghiệp. Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp, động viên, thúc đẩy nhân viên tạo điều kiện cho họ bộc lộ, phát triển và cống hiến tài năng cho doanh nghiệp, giúp họ gắp bó, tận tâm và trung thành với tổ chức, doanh nghiệp.
Quản lý tổ chức cũng không hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực Một tổ chức hay doanh nghiệp dù cho có nguồn tài chính phong phú, nguồn tài nguyên dồi dào với hệ thống máy móc thiết bị hiện đại có công thức khoa học kỹ thuật thần kỳ mà không có yếu tố của con người thì cũng vô dụng. Chính cách quản lý nhân sự giúp cho phát huy nguồn lực con người. Cung cách quản lý nhân sự tạo ra bộ mặt văn hóa của doanh nghiệp tổ chức, tạo ra bầu không khí vui tươi khấn khởi hay căng thẳng. Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhân sự tại doanh nghiệp 1.
Công tác quy hoạch nhân sự Hoạch định nguồn nhân lực là một tiến trình duyệt xét lại một cách có hệ thống những yêu cầu về nguồn nhân lực để bảo đảm rằng cơ quan sẽ có đúng số người có đầy đủ những kỹ năng theo đúng nhu cầu. Trong việc quản lý nhân sự thì hoạch định nhân sự là bước đầu tiên cần phải thực hiện một cách đúng đắn vì khi có gì sai sót sẽ dẫn đến những bước tiếp theo gặp nhiều khó khăn. Hoạch định nhân sự sao cho khoa học thì người 9 quản lý cần tự trả lời được các câu hỏi sau: Chúng ta luôn phải biết chúng ta làm vì cái gì? Làm như thế nào?