CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò của quản lý nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các các nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định [12,tr1] Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con người. Khi nói đến nguồn nhân lực, chúng ta nói đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Nguồn nhân lực với tư cách là sự phát triển của kinh tế xã hội, cũng có thể hiểu là tổng hợp các cá nhân những người cụ thể tham gia vào lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động. Nếu xét nguồn nhân lực trên góc độ số lượng thì nó được biểu hiện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động, tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng dân số.
Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua các mặt như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, sức khỏe, khả năng sáng tạo… Như vậy, khi xem xét dưới các góc nhìn khác có thể có những khái niệm khác về nguồn nhân lực nhưng tất cả những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản là: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng” 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo-phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên [12,tr3]. Quản lý nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao 4 gồm các chức năng như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển và duy trì nguồn nhân lực.
Quản lý nguồn nhân lực phải được xem xét theo quan điểm hệ thống. Việc xác định nguồn nhân lực, vấn đề tuyển chọn, sắp xếp đề bạt, đào tạo phát triển và đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên cần phải được đặt trên cơ sở khoa học trong mối liên hệ tương quan với nhiều vấn đề và chức năng của quản lý. Quản lý nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của quản lý kinh tế, bởi con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất của một doanh nghiệp, do đó việc lựa chọn sắp xếp con người có năng lực phẩm chất phù hợp với các vị trí trong bộ máy tổ chức là nhiệm vụ hàng đầu của quản lý nhân lực. Với quy tắc vàng: "Con người là tài sản quý giá nhất", ngày nay vấn đề quản lý nguồn nhân lực được đưa lên hàng đầu trong công tác xây dựng và phát triển các tổ chức.
Trong các công ty hay đơn vị hành chính, bộ phận quản lý nhân lực được bổ sung kiến thức cũng như công cụ hiện đại để làm tốt công việc này. Do đặc thù của nguồn nhân lực, nhân viên có các năng lực đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quang. Do đó quản lý nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản lý các yếu tố khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vai trò của quản lý nguồn nhân lực Lực lượng sản xuất là yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định đến sự vận động và phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu. Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu sản xuất là không đủ, mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó. Như vậy vai trò của quản lý nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự phát triển của kinh tế xã hội.
5 Tầm quan trọng của quản lý nguồn nhân lực tăng mạnh trên toàn thế giới trong mấy thập kỷ gần đây khi trình độ năng lực của nhân viên được nâng cao và mức độ trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại; công việc ngày càng phức tạp, đa dạng và yêu cầu của công việc ngày càng tăng; hầu hết các doanh nghiệp phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường; phải vật lộn với cuộc suy thoái kinh tế và đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của nhân viên. Đặc biệt trong nền kinh tế chuyển đổi, nơi mà các sản phẩm được hoạch định, mọi người đã quen với việc đứng xếp hàng khi mua sắm, các nhà quản lý không còn nhiều ý tưởng về quản lý kinh doanh. Kết quả là họ không có khả năng ra quyết định, không có khả năng chấp nhận may rủi, làm việc đơn thuần như một nhân viên hành chính, vấn đề áp dụng và phát triển quản lý nguồn nhân lực được coi như một trơng những điểm mấu chốt của cải cách quản lý. Việt Nam không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Quá trình đổi sang nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế. Điều này được coi như là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cản trở kinh tế phát triển. Thêm vào đó, Việt Nam còn phải đối đầu với những vấn đề gay gắt của một đất nước sau chiến tranh và nền kinh tế kém phát triển. Vì vậy thách thức đặt ra cho Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là đổi mới kinh tế, để đổi mới về kinh tê thì quản lý nguồn nhân lực thực sự là điều kiện cần thiết để khai thác nguồn tiềm năng to lớn thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao mức sống cho người dân.
Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản lý con người trong tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích động viện nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tậm với tổ chức Quản lý nguồn nhân lực bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp hay các tổ chức và đội ngũ nhân viên của họ. 6 Mục tiêu chủ yếu của quản lý nguồn nhân lực là nhằm đảm bảo đủ số lượng người lao động với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc và vào đúng thời điểm để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người quản lý có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại. nhưng họ vẫn có thể gặp thất bại khi tuyển không đúng người cho đúng việc, hoặc không biết khuyến khích nhân viên làm việc.
Ðể quản lý có hiệu quả, họ cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm theo mình. Nhiều khi các nhà quản lý có thế mạnh chính trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhưng lại không được đào tạo trong cách lãnh đạo nhân viên. Thực tế cho thấy, một lãnh đạo giỏi cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn đề nhân sự hơn các vấn đề khác. Nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực giúp cho các nhà quản lý học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết cách thông cảm với nhu cầu nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển dụng, sử dụng nhân viên một cách đúng đắn.
Như vậy, về mặt kinh tế, quản lý nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp, tổ chức khai thác các tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của tổ chức về nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, quản lý nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản-lao động trong các tổ chức. Ðể phát triển tổ chức bền vững và quản lý cấp dưới hiệu quả, tất cả các nhà quản lý cần có nhận thức, hiểu biết và kỹ năng quản lý nguồn nhân lực phù hợp. Nội dung của quản lý nguồn nhân lực 1.
Lập kế hoạch và tuyển dụng nhân lực a) Lập kế hoạch nguồn nhân lực Lập kế hoạch NLL là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực 7 hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao theo các chiến lược của doanh nghiệp [12,tr37]. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề một cách hệ thống, lập kế hoạch nguồn nhân lực được sử dụng nhằm làm giảm tối đa các bất trắc, rủi ro và nhằm làm giảm bớt các sai lầm và lãng phí.