CHƯƠNG 1 CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.Khái niệm, đặc điểm, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế [18] 1. Định nghĩa Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) thuộc lĩnh vực y tế hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp y tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, thực hiện cung cấp các dịch vụ y tế và đóng góp một phần quan trọng trong duy trì hoạt động của nền kinh tế quốc dân. ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán, hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp y tế, đảm bảo an sinh xã hội và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Tuy nhiên, hoạt động sự nghiệp (HĐSN) công lập thuộc lĩnh vực y tế lại có những nét riêng biệt so với các hoạt động kinh tế khác trong nền kinh tế.
Đặc điểm - Là đơn vị sự nghiệp có thu của Nhà nước nên chịu sự chỉ đạo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhà nước đảm bảo mọi người đều được chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng phù hợp với khả năng kinh tế xã hội của đất nước. Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp y tế không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì lợi ích cộng đồng.
- Là bộ mặt của ngành y tế, kỹ thuật của bệnh viện phản ánh sự phát triển y học của một quốc gia. - Bệnh viện là trung tâm chẩn đoán và điều trị với kỹ thuật cao, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia về lĩnh vực khám, chữa bệnh (KCB), làm giảm đi sự thiếu hụt lao động vì ốm đau, giúp phục hồi sức khỏe và chữa bệnh cho mọi người. Phân loại Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau: + Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động cho hoạt động thường xuyên: là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí hoạt động cho đơn vị, mức tự đảm bảo chi phí hoạt động bằng hoặc lớn hơn 100%. + ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị, mức kinh phí tự đảm bảo chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị từ 10% đến dưới 100%.
+ ĐVSN có thu thấp: là đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động nếu mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế [19] Các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, khoa học công nghệ nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ công cho xã hội không nhằm mục đích sinh lời. Sản phẩm, dịch vụ công được cung ứng nhằm đáp ứng lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng, xã hội bởi việc sử dụng nó mang lại lợi ích cho nhiều người, nhiều đối tượng. Đó là những sản phẩm, dịch vụ đặc biệt như đạo đức, sức khỏe, trình độ văn hóa, kiến thức khoa học là những sản phẩm có giá trị vô hạn.
Mặt khác, trong quá trình hoạt động được nhà nước cho phép thu các loại phí như học phí, viện phí. để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị, nhằm tăng 6 thu nhập cho người lao động trong đơn vị đồng thời giảm bớt gánh nặng cho nhà nước. Đó chính là sự tồn tại tất yếu của các đơn vị sự nghiệp có thu như các đơn vị: trường học, bệnh viện, trung tâm thể dục thể thao, viện nghiên cứu khoa học. Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế 1.
Quản lý tài chính bệnh viện [8] Chính phủ Việt Nam đã trao quyền tự chủ cho các bệnh viện công như một phần trong quá trình mở rộng cải cách hành chính công với mục đích cải thiện kết quả hoạt động của các bệnh viện này cũng như giảm bớt gánh nặng đối với ngân sách nhà nước. Nghị định 10/2002/CP-NĐ năm 2002 đã cho phép các bệnh viện và đơn vị có thu thuộc các lĩnh vực khác nhau có quyền tự chủ trong sử dụng nguồn thu ngoài ngân sách với điều kiện phải tuân theo một số quy định. Năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ- CP thay thế Nghị định 10. Nghị định 43 được áp dụng cho tất cả các bệnh viện công.
Cùng lúc, Chính phủ đã khuyến khích các bệnh viện thực hiện “xã hội hóa nguồn vốn” nhằm huy động nguồn đầu tư ngoài ngân sách từ các tổ chức tư nhân và các cá nhân, bao gồm cả cán bộ bệnh viện để triển khai các hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có hình thức liên doanh, liên kết đầu tư trang thiết bị. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa, trong đó đã cho phép các bệnh viện công huy động vốn, góp vốn để thành lập đơn vị hạch toán độc lập thuộc bệnh viện công. Các đơn vị này có thể tự đặt ra mức phí cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cao hơn. Tự chủ tài chính bệnh viện và liên doanh liên kết xã hội hóa đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong công tác tài chính nói riêng và quản lý bệnh viện nói chung.
Tuy nhiên, giống như hầu hết các nước thực hiện cải cách theo hình thức này, cũng có một số vấn đề liên quan đến tác động không mong muốn trong lĩnh vực tự chủ bệnh viện ví dụ như lạm dụng dịch vụ, tăng phí dịch vụ và tăng gánh nặng chi phí chăm sóc sức khỏe đối với người dân 7 và bảo hiểm xã hội. Trong những năm gần đây ở nước ta, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công có nhiều đổi mới và do đó quản lý tài chính tại các đơn vị này cũng phải thích ứng và thay đổi mạnh mẽ. Quản lý tài chính bệnh viện công 1.1 Khái niệm quản lý tài chính bệnh viện công Quản lý tài chính bệnh viện công là sự tác động lên các đối tượng và hoạt động tài chính thông qua quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính, quyết toán và kiểm tra tài chính tại bệnh viện nhằm xác định các nguồn thu và các khoản chi để phục vụ nhiệm vụ khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo đủ kinh phí và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công.2 Mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện công Để thực hiện mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện công là sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả và công bằng, quản lý tài chính bệnh viện công phải thực hiện được các mục tiêu cụ thể sau đây: - Duy trì cân đối thu chi: Đây là điều kiện bắt buộc và cần thiết nhất của quản lý tài chính bệnh viện công và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý tài chính mới, tiến tới hạch toán chi phí. - Huy động và tạo các nguồn thu một cách hợp pháp.
- Đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa chuyên sâu của bệnh viện. - Cải thiện chất lượng các hoạt động thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ lệ tử vong, số lượng khám chữa bệnh thành công. - Công bằng y tế cho các đối tượng phục vụ. - Nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc của bệnh viện.
- Sử dụng các nguồn tài chính một cách có hiệu quả, đem lại giá trị gia tăng cho bệnh viện. Nguyên tắc quản lý tài chính bệnh viện công - Tiến hành thu-chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của Nhà nước và các quy định của bệnh viện về quản lý tài chính. - Tăng nguồn thu hợp pháp, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp và các nguồn khác như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ, đóng góp của nhân viên theo đúng quy định của Nhà nước. - Thực hiện chính sách ưu đãi và cải thiện tính công bằng trong khám, chữa bệnh cho các đối tượng ưu đãi và người nghèo.
- Bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, bệnh viện và bệnh nhân, cụ thể là lợi ích của các nhóm đối tượng: Nhà nước, bệnh nhân, ban lãnh đạo và nhân viên của bệnh viện. - Công khai chi phí phải trả cho các loại dich vụ khám chữa bệnh. Từng bước hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh. Cơ chế tự chủ tài chính đối với bệnh viện công [10] Sau khi đánh giá 10 năm thực hiện nghị định 43, chính phủ ra nghị định 16/2015/NĐ-CP về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập để thay thế cho nghị định cũ.
Nghị định 16/2015/NĐ-CP là một yếu tố quan trọng trong cải cách hành chính của Việt Nam, giúp cho các cơ sở dịch vụ công có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách này tạo điều kiện để các bệnh viện chủ động hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ chuyên môn thông qua việc tái cơ cấu về tổ chức và nhân sự. Chính phủ cũng đã cho phép các đơn vị sự nghiệp công được huy động vốn, liên doanh liên kết để tổ chức hoạt động dịch vụ nhằm tăng cường năng lực cung ứng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Các bệnh viện được trao quyền tự chủ về tài chính, được chủ động sử dụng nguồn ngân sách chi thường xuyên và các nguồn thu để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.