Nghiên Cứu Mô Hình Toán Kinh Tế Ứng Dụng Trong Chi Phí Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích học các mô hình toán kinh tế trong ước lượng chi phí khám chữa bệnh do bảo hiểm y tế chi trả ở việt, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2019

115
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm và lịch sử phát triển của bảo hiểm

1.2. Các loại hình bảo hiểm

1.3. Các đặc trưng của bảo hiểm

1.4. Định phí và dự phòng bảo hiểm

1.5. Bảo hiểm y tế

1.6. Tổng quan các mô hình ước lượng, dự báo chi phí KCB

1.7. Các mô hình dự báo chi phí khám, chữa bệnh

1.8. Các mô hình hồi quy ước lượng chi phí khám, chữa bệnh

1.9. Các mô hình tổn thất ước lượng chi phí khám, chữa bệnh

1.10. Các mô hình ước lượng chi phí khám chữa bệnh được áp dụng ở Việt Nam

1.11. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mô hình rủi ro nhóm trong ước lượng chi phí khám chữa bệnh

2.2. Mô hình hóa số lượt KCB

2.3. Mô hình hóa chi phí KCB theo lượt

2.4. Phương pháp ước lượng

2.5. Phương pháp tần suất

2.6. Phương pháp Bayes

2.7. Phương pháp kiểm định lựa chọn mô hình

2.7.1. Kiểm định Kolmogorov – Smirnov

2.7.2. Kiểm định Anderson – Darling

2.7.3. Kiểm định Khi bình phương. Các tiêu chí so sánh

2.8. Phương pháp mô phỏng ngẫu nhiên

2.8.1. Mô phỏng biến ngẫu nhiên rời rạc

2.8.2. Mô phỏng biến ngẫu nhiên liên tục

2.8.3. Mô phỏng tổng chi phí theo mô hình rủi ro nhóm

2.9. Độ đo rủi ro và ứng dụng

2.9.1. Độ đo rủi ro dùng để tính phí (Premium – based risque measures)

2.9.2. Độ đo rủi ro dùng để tính vốn kinh tế (Capital – based risque measure)

2.10. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ THAM GIA VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHÁM, CHỮA BỆNH BẰNG BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.1. Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam

3.2. Một số khái niệm

3.3. Quá trình ra đời và phát triển của Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam

3.4. Quỹ Bảo hiểm Y tế

3.5. Thực trạng tham gia Bảo hiểm Y tế

3.6. Thực trạng sử dụng Bảo hiểm Y tế trong khám, chữa bệnh

3.7. Tình hình KCB BHYT TP HCM giai đoạn 2014 - 2016

3.8. Số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế. Chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

3.9. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: SỬ DỤNG MÔ HÌNH RỦI RO NHÓM ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp đối với từng nhóm

4.2. Mô hình cho số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.3. Mô hình cho chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.4. Ước lượng tham số cho các mô hình

4.4.1. Ước lượng tham số mô hình số lượt khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.4.2. Ước lượng tham số cho mô hình chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.5. Mô phỏng tổng chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế và đánh giá sai số của ước lượng

4.5.1. Mô phỏng chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo mô hình rủi ro nhóm

4.5.2. Đánh giá sai số của ước lượng

4.6. Ước lượng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo đầu người cho năm 2017

4.7. Dự báo số người tham gia Bảo hiểm Y tế và ước lượng tổng chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.7.1. Số người tham gia Bảo hiểm Y tế

4.7.2. Ước lượng tổng chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế

4.8. Tính toán các độ đo rủi ro và ứng dụng

4.8.1. Độ đo rủi ro dùng để tính phí

4.8.2. Độ đo rủi ro dùng để tính vốn kinh tế

4.9. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về bảo hiểm và bảo hiểm y tế (BHYT), bao gồm các khái niệm cơ bản và lịch sử phát triển của hệ thống bảo hiểm tại Việt Nam. Việc hiểu rõ các khái niệm này là cần thiết để nhận diện sự cần thiết của việc áp dụng các mô hình toán kinh tế trong ước lượng chi phí khám chữa bệnh (KCB). Theo Jerome (2001), bảo hiểm không chỉ là một công cụ tài chính mà còn là một phương tiện để giảm thiểu rủi ro cho cá nhân và xã hội. Sự phát triển của BHYT tại Việt Nam từ năm 1992 đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân. Mục tiêu của phần này không chỉ là trình bày lý thuyết mà còn là chỉ ra khoảng trống nghiên cứu, từ đó nhấn mạnh sự cần thiết của việc áp dụng các mô hình toán trong ước lượng chi phí KCB. Các mô hình này sẽ giúp đưa ra những dự báo chính xác hơn về chi phí và từ đó hỗ trợ cho việc quản lý quỹ BHYT một cách bền vững.

II. Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 tập trung vào các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để ước lượng chi phí KCB do BHYT chi trả. Mô hình rủi ro nhóm là phương pháp chính được áp dụng, cho phép phân chia dân số thành các nhóm dựa trên các yếu tố nhân khẩu học như tuổi và giới tính. Phương pháp này không chỉ giúp ước lượng chi phí mà còn dự báo số lượt KCB trong tương lai. Ngoài ra, các phương pháp kiểm định như Kolmogorov – Smirnov và Anderson – Darling được sử dụng để đảm bảo tính chính xác của các mô hình. Phương pháp mô phỏng ngẫu nhiên cũng được áp dụng nhằm tạo ra các kịch bản khác nhau trong ước lượng chi phí. Việc lựa chọn mô hình phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo rằng các kết quả thu được có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý quỹ BHYT.

III. Thực trạng về tham gia và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng tham gia và sử dụng BHYT trong KCB tại Việt Nam, đặc biệt là tại TP. Hồ Chí Minh. Từ năm 1992, hệ thống BHYT đã phát triển mạnh mẽ, với tỷ lệ tham gia ngày càng tăng, đạt khoảng 85% dân số vào năm 2018. Tuy nhiên, việc sử dụng BHYT trong KCB vẫn còn nhiều vấn đề, như chi phí KCB tăng cao và sự gia tăng tần suất sử dụng dịch vụ. Các số liệu từ giai đoạn 2014 - 2016 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong chi phí KCB do BHYT chi trả, điều này đặt ra thách thức lớn cho việc quản lý quỹ BHYT. Phân tích thực trạng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả của BHYT mà còn chỉ ra những yếu tố cần cải thiện trong chính sách y tế.

IV. Sử dụng mô hình rủi ro nhóm ước lượng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam

Chương 4 áp dụng mô hình rủi ro nhóm để ước lượng chi phí KCB do BHYT chi trả tại TP. Hồ Chí Minh. Mô hình này cho phép phân tích chi phí theo từng nhóm đối tượng, từ đó đưa ra những dự báo chi tiết về chi phí KCB trong tương lai. Việc ước lượng tham số cho các mô hình được thực hiện thông qua các phương pháp thống kê hiện đại, bao gồm mô phỏng Monte-Carlo. Kết quả từ mô phỏng không chỉ cung cấp thông tin về chi phí trung bình mà còn cho thấy độ ổn định của chi phí, giúp các nhà quản lý có cơ sở để ra quyết định về chính sách BHYT. Đặc biệt, việc tính toán các độ đo rủi ro sẽ hỗ trợ cho việc dự phòng quỹ BHYT, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 là trình bày cơ sở lý luận và tổng quan về vấn đề nghiên cứu để từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu. Cụ thể: Phần 1.1 trình bày cơ sở lý luận về bảo hiểm nói chung và BHYT nói riêng cùng các vấn đề liên quan để từ đó cho thấy được sự cần thiết phải sử dụng các phương pháp tiếp cận hiện đại trong ước lượng chi phí khám, chữa bệnh; Phần 1.2 tổng quan các mô hình Toán kinh tế trong ước lượng chi phí KCB để từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp với Việt Nam. Cơ sở lý luận Mục này sẽ trình bày cơ sở lý luận về bảo hiểm nói chung và BHYT nói riêng cùng các yếu tố liên quan. Các khái niệm và lịch sử phát triển của bảo hiểm 1.

Các khái niệm về bảo hiểm Theo Jerome (2001, trang 11), “Bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm người có cùng chung một loại rủi ro có thể sẽ xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải gánh chịu khi tổn thất xảy ra”. Một định nghĩa khác của Hemard, được trích dẫn trong Jerome (2001, trang 11) có tính pháp lý hơn, đó là “Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là nhà bảo hiểm, người chịu trách nhiệm với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo các phương pháp thống kê”. Theo các định nghĩa trên thì bốn yếu tố đặc trưng của một nghiệp vụ bảo hiểm có thể kể đến: Thứ nhất là rủi ro, đó là biến cố gây thiệt hại và để đối phó với biến cố này người ta tìm cách phòng vệ.

Thứ hai là khoản đóng góp của người được bảo hiểm trước khi rủi ro xảy ra, khoản tiền này còn được gọi là phí bảo hiểm. Thứ ba là khoản tiền mà nhà bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm hoặc người thứ ba được hưởng trong trường hợp xảy ra tổn thất. Thứ tư là sự bù trừ rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện trong tổ chức tương hỗ mà nhà bảo hiểm (công ty bảo hiểm hay quỹ bảo hiểm) quản lý. Những số liệu thống kê cho phép nhà bảo hiểm lập được một biểu phí chuẩn 10 mực.

Ở phần sau, bốn đặc trưng này sẽ được trình bày cụ thể hơn. Lịch sử phát triển của bảo hiểm Ngay từ khi xuất hiện, con người đã cố gắng phòng vệ chống lại những bấp bênh và nguy hiểm đe dọa sự tồn tại. Trước tiên, con người tìm cách bảo vệ chính bản thân mình, gia đình và người thân. Tiếp đó, sự tiến triển dần dần cho phép con người có được của cải, nhà cửa, đàn gia súc, mùa màng và tài sản.

Phần lớn hoạt động của con người luôn dành cho việc phòng vệ: cúng tế, hiến sinh cho các đấng siêu nhiên (với hi vọng chế ngự được thời tiết, bệnh tật, số phận của con người), sản xuất vũ khí, xây dựng thành quách, duy trì binh lính, tổ chức đoàn kết gia đình, thị tộc. Bảo hiểm cũng nằm trong khuôn khổ của sự tìm kiếm phòng vệ cổ xưa này. Bảo hiểm như một tổ chức đoàn kết hiện đại và có tính khoa học, giúp các nạn nhân bất hạnh có được một khoản bồi thường tài chính nhờ vào những khoản đóng góp của những người không gặp bất hạnh. Từ thời tiền sử, các nhà khảo cổ đã tìm được những vết tích chứng minh sự tồn tại của các hoạt động cứu trợ tương hỗ, phân chia các thiệt hại do bị mất cắp hay bị cướp hay trợ cấp giúp cho các thành viên trong cùng hội đoàn và những người trong gia đình của họ trong các trường hợp bị tử vong do ốm đau, bệnh tật.

Thời trung cổ, các thợ thuyền, công nhân, nhà buôn, kỹ nghệ gia cũng đã biết tổ chức đoàn kết các thành viên của mình để khắc phục những tổn thất khi có tai nạn lao động, hỏa hoạn, mất khả năng lao động, do ốm đau hoặc già yếu. Các tổ chức này góp phần vào sự an toàn tài chính cho các thành viên của mình nhưng hoạt động nghiêng về các nguyên tắc dựa trên tình thương và phân chia các khoản trợ cấp thiết yếu nhờ vào quỹ cứu hộ. Đây chưa thực sự là hình thức bảo hiểm vì còn thiếu sự đóng góp vào quỹ và chưa có hợp đồng giữa các bên. Vào thế kỷ XII khi sự trao đổi buôn bán bằng đường biển phát triển thì cũng kéo theo hình thức “cho vay trong trường hợp mạo hiểm lớn”.

Cơ chế hoạt động của hình thức này là các nhà buôn đường biển có thể vay các khoản tiền lớn từ các ngân hàng. Nếu tàu bị đắm, nhà buôn không cần phải trả tiền đã vay cho chủ ngân hàng. Trong trường hợp ngược lại, nếu việc buôn bán thành công, người cho vay có thể được hoàn trả không chỉ vốn mà còn được hưởng thêm một khoản lời rất lớn, bù trừ cho rủi ro đã phải cam kết chịu. Bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm đầu tiên ra đời.

Tiếp theo đó, một số loại hình bảo hiểm khác cũng phát triển như bảo hiểm nhân thọ với hợp đồng bảo hiểm đầu tiên được ký vào năm 1583 tại Luân Đôn; bảo hiểm hỏa hoạn sau vụ hỏa hoạn xảy ra ngày 2 tháng 9 năm 1666. 11 Trong suốt thế kỷ XIX, nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác cũng lần lượt ra đời như bảo hiểm tai nạn, vỡ kính, mưa đá, đàn gia súc, ngựa đua, trộm cắp, trách nhiệm dân sự. Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh tế. Doanh số của các nhà bảo hiểm chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chiếm khoảng 10% ở các nước phát triển.

Mặc dù các so sánh đều không hoàn hảo nhưng người ta đã chỉ ra rằng, kinh tế của một nước càng hiện đại thì tỷ lệ của bảo hiểm trong GDP càng cao. Các loại hình bảo hiểm Tùy thuộc vào đối tượng được bảo hiểm, mục đích hoạt động, kỹ thuật bảo hiểm và phương thức quản lý mà có cách phân chia thành các loại hình bảo hiểm khác nhau. Bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm con người Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm thì bảo hiểm được chia thành bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm con người. Bảo hiểm thiệt hại lấy mức độ thiệt hại làm đối tượng bảo hiểm.

Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, nhà bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng. Bảo hiểm thiệt hại lại được chia làm hai loại là bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Đối với bảo hiểm tài sản, đối tượng bảo hiểm là tài sản thuộc quyền sở hữu trực tiếp của người được bảo hiểm. Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự, đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự.

Theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ 3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng. Bảo hiểm con người lấy tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người làm đối tượng bảo hiểm. Khi rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do nhà bảo hiểm trả.

Bảo hiểm con người bao gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm y tế. Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại Căn cứ vào mục đích hoạt động, bảo hiểm được chia thành hai loại là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại. 12 Bảo hiểm xã hội nhằm phục vụ cho các chính sách xã hội của Nhà nước. Theo luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Ngược lại với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Việc cân đối nguồn thu và chi bảo hiểm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm, bao gồm kỹ thuật tồn tích và kỹ thuật phân chia, bảo hiểm được chia làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

Bảo hiểm nhân thọ là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Loại bảo hiểm này được quản lý theo kỹ thuật tồn tích và được ký kết dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời. Bản thân yếu tố rủi ro không ổn định trong suốt thời hạn của hợp đồng bảo hiểm đòi hỏi nhà bảo hiểm phải tính đến hai vấn đề trong cách quản lý của mình: Thứ nhất là để dành một phần phí bảo hiểm thu được để ứng phó với các cam kết tương lai đã được tính toán theo các phương pháp tính toán bảo hiểm; thứ hai là phải tính đến các lãi gộp thu được từ những khoản đầu tư đại diện cho các dự phòng dài hạn. Ngược lại với bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ).

Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm). Bảo hiểm phi nhân thọ được quản lý theo kỹ thuật phân chia, trong đó các nhà bảo hiểm phân chia cho những người bị tổn thất số lượng phí do những người được bảo hiểm đóng góp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Mô Hình Toán Kinh Tế Ứng Dụng Trong Chi Phí Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Ở Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Hồng Thắm, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế, tập trung vào việc áp dụng các mô hình toán học trong việc phân tích và dự đoán chi phí khám chữa bệnh trong hệ thống bảo hiểm y tế tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý chi phí y tế mà còn giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống bảo hiểm y tế, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về các phương pháp toán học có thể áp dụng trong lĩnh vực kinh tế y tế.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan đến quản lý xây dựng và đầu tư, hãy tham khảo thêm bài viết về quản lý xây dựng tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng xây dựng. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dự án xây dựng trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.

Ngoài ra, nghiên cứu về hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cũng là một tài liệu tham khảo quý giá, cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức quản lý và tối ưu hóa chi phí trong các dự án xây dựng cơ bản.

Cuối cùng, bài viết về quản trị chất lượng tại công ty nhựa đường Petrolimex sẽ mang đến cho bạn những chiến lược và phương pháp hữu ích trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về kinh tế học mà còn giúp bạn áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả.