CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM 1. Khái niệm chung về thất nghiệp và việc làm 1. Khái niệm về thất nghiệp và các loại thất nghiệp 1. Khái niệm về thất nghiệp Thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường.
Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đê có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định. Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.89] Thất nghiệp là những người trong độ tuổi LĐ, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm [2, tr. Phân loại thất nghiệp Để phân loại thất nghiệp người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau ví dụ như phân loại theo độ tuổi, giới tính, khu vực…Tuy nhiên cách phân loại thường được sử dụng nhất trong kinh tế vĩ mô là phân loại theo nguồn gốc (nguyên nhân) và theo tính chất (tự nguyện và không tự nguyện) của thất nghiệp. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp được chia thành những loại sau: Thất nghiệp tạm thời: Đây là loại thất nghiệp phát sinh do NLĐ cần có thời gian tìm kiếm việc làm.
Tìm kiếm việc làm là quá trình tạo ra sự trùng khớp giữa công nhân và việc làm thích hợp. NLĐ nghỉ việc nhanh chóng tìm được việc làm mới và thích hợp hoàn toàn với nó.89] Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự mất cân đối giữa nhu cầu sử dụng lao động và cơ cấu của LLLĐ. hay nói cách khác là lượng cung lao động vượt lượng cầu về lao động. Thất nghiệp do tiền lương ở mức cân bằng Trên TTLĐ, tiền lương làm cho cung và cầu về lao động bằng nhau tại Wr0.
Tại mức lương cân bằng đó, cả lượng cung và lượng cầu về lao động đều bằng L0. Ngược lại, nếu tiền lương buộc phải duy trì ở mức cao hơn tiền lương cân bằng, có thể do luật tiền lương tối thiểu, lượng cung về LĐ tăng lên LS và lượng cầu về LĐ giảm xuống. Thất nghiệp chu kỳ hay còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu: Đây là loại thất nghiệp phát sinh khi nền KT lâm vào tình trạng suy thoái do tổng cầu quá thấp. Để giảm loại thất nghiệp này CP cần sử dụng chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng, nhằm nhanh chóng đưa nền KT trở về mức toàn dụng.89] Phân loại theo tính chất thất nghiệp được chia thành những loại sau: Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp phát sinh do NLĐ không chấp nhận những công việc hiện thời với mức lương tương ứng.
Thất nghiệp tự nguyện diễn ra trong một nền KT cạnh tranh hoàn hảo có tiền lương linh hoạt, khi những người đủ tiêu chuẩn quyết định chọn không đi làm tại mức lương hiện tại. Thất nghiệp tự nguyện có thể là một kết cục không hiệu quả của thị trường cạnh tranh.89] Thất nghiệp không tự nguyện: là loại thất nghiệp phát sinh dù người lao động sẵn sàng chấp nhận những công việc hiện thời với mức tiền lương tương ứng. Việc làm và các loại việc làm 1. Khái niệm việc làm Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau: Theo Điều 13, chương II (Việc làm) của Bộ Luật lao động nước Việt Nam quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".89] Một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn 2 điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho NLĐ và cho các thành viên trong gia đình.
Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm. Khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với LLLĐ “việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hịên vật)”.89] Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là:“Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa TLSX với sức LĐ, để tạo ra hàng hóa theo yêu cầu của thị trường”.89] Theo quan điểm này việc làm có các đặc trưng sau: Một là, việc làm là sự biểu hiện quan hệ của 2 yếu tố sức LĐ (V) và tư liệu sản xuất (C). Hai là, mang lại lợi ích (vật chất và tinh thần) cho xã hội.
7 Ba là, việc làm đó là trạng thái phù hợp giữa sức LĐ và tư liệu SX hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để thực hiện hoạt động. Sự phù hợp được thể hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng. Trạng thái phù hợp này có thể được biểu hiện bằng mối quan hệ tỉ lệ của hai yếu tố này theo phương trình: Việc làm = C/V Trong đó: C: Đơn vị tư liệu sản xuất; V: Đơn vị lao động. Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho NLĐ.
Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là những phạm trù gắn liền với nhau và gắn liền với người có khả năng lao động. Thiếu việc làm: Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Thất nghiệp: Thất nghiệp là hiện tượng người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng LĐ, muốn đi làm nhưng chưa có việc làm.89] Người có việc làm: Theo tài liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hàng năm: Người có việc làm là những người từ đủ 16 tuổi trở lên trong nhóm dân số HĐKT mà trong tuần lễ điều tra: Người có việc làm được chia làm 2 loại: Người có việc làm đầy đủ và người thiếu việc làm. Người có việc làm đầy đủ: Gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng số giờ qui định.89] Người thiếu việc làm: Theo hướng dẫn điều tra LĐ việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì: người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định và có nhu cầu làm thêm giờ.
Các loại việc làm Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình thức khác nhau. Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp lý 8 và những điều kiện SDLĐ. Việc làm đầy đủ: trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh tế, mà ở đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lương thực tế khống chế. Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng nhất như khái niệm “ toàn dụng nhân lực”.89] Trong lý thuyết kinh tế và thực tế người ta còn chia việc làm đầy đủ ra thành nhiều dạng như: việc làm năng suất, hiệu quả và hợp lý.
Việc làm hiệu quả là việc làm trong SX sinh lợi nhuận được trang bị kỹ thuật với tổ chức LĐ tiên tiến, NSLĐ cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Khái niệm việc làm hiệu quả này thường hướng vào sự phát triển toàn diện con người và hoàn toàn chấp nhận được. Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác. Việc làm phụ là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của NLĐ để kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tại chính nơi mình đang làm việc.
Việc làm độc lập: là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không thu nhận lao động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các dịch vụ khác nhau.90] Việc làm tổng thể: là việc làm trong tất cả các lĩnh vực HĐLĐ, cả trong nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp, trong dịch vụ quốc phòng, kinh tế gia đình, trong các công sở, tôn giáo và trong cả trong các dạng khác hoạt động công ích xã hội.90] Việc làm linh hoạt (thời gian linh hoạt): là việc làm tồn tại dưới nhiều dạng phổ biến là khi NLĐ thoả thuận với NSDLĐ có thể tự lựa chọn thời gian bắt đầu và kết thức công việc.90] Việc làm theo thời vụ: là loại hình việc làm gắn với những công việc theo thời vụ trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác rừng, ở các khu nghỉ mát, trong các ngành mía đường, đánh bắt hải sản và nhiều ngành khác với công việc 9 không đều trong năm. Hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên ngoại thành 1. Khái niệm hỗ trợ tạo việc làm Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa SLĐ và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng SLĐ đó. Vấn đề giải quyết tạo việc làm cho NLĐ là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới.
Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm: Giải quyết tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp NLĐ phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả NLĐ và NSDLĐ, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.90] Trong khái niệm trên tạo việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được công ăn việc làm mới cho NLĐ.