Biện Pháp Hạn Chế Lao Động Bỏ Trốn Ở Nước Ngoài Qua Thực Tiễn Từ Nhật Bản

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh biện pháp hạn chế lao động bỏ trốn ở nước ngoài qua thực tiễn đưa tu nghiệp sinh việt nam sang, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ÐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết cấu đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

2.1. Khái niệm về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

2.2. Bộ qui tắc ROCCIPI

2.3. Các nghiên cứu về chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài của Nhật Bản

2.4. Các nghiên cứu về chính sách đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam

2.5. Kinh nghiệm một số nước trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TU NGHIỆP SINH BỎ TRỐN Ở NHẬT BẢN, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG

3.1. Chương trình Tu nghiệp sinh/Thực tập sinh của Nhật Bản

3.2. Thực trạng tu nghiệp sinh bỏ trốn tại Nhật Bản

3.3. Nguyên nhân tu nghiệp sinh bỏ trốn

3.4. Tác động của tu nghiệp sinh bỏ trốn lên hoạt động đưa tu nghiệp sinh sang Nhật

4. CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐƯA TU NGHIỆP SINH SANG NHẬT BẢN VÀ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

4.1. Các chủ thể trong hoạt động đưa tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản

4.2. Mối quan hệ giữa các chủ thể và vai trò của Nhà nước trong hoạt động đưa tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản

4.3. Các văn bản pháp luật liên quan

4.4. Phân tích pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo bộ qui tắc ROCCIPI

4.5. Quy trình (Process)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

5.1. Kiến nghị chính sách

5.2. Tổ chức, quản lý nhà nước

5.3. Giám sát các doanh nghiệp phái cử

5.4. Các hoạt động hỗ trợ người lao động

5.5. Hạn chế của đề tài và một số gợi ý

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Biện Pháp Hạn Chế Lao Động Bỏ Trốn Ở Nước Ngoài

Tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn ở nước ngoài, đặc biệt là tại Nhật Bản, đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Theo thống kê, tỷ lệ lao động bỏ trốn cao đã khiến nhiều quốc gia siết chặt chính sách tiếp nhận lao động Việt Nam. Việc tìm hiểu và áp dụng các biện pháp hạn chế lao động bỏ trốn là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người lao động và duy trì mối quan hệ hợp tác quốc tế.

1.1. Tình Hình Lao Động Bỏ Trốn Ở Nhật Bản

Tình hình lao động bỏ trốn ở Nhật Bản đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Nhiều tu nghiệp sinh Việt Nam đã tìm cách bỏ trốn khỏi nơi làm việc để làm việc bất hợp pháp, gây ra nhiều hệ lụy cho cả người lao động và chính phủ hai nước.

1.2. Nguyên Nhân Gây Ra Tình Trạng Bỏ Trốn

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lao động bỏ trốn bao gồm thiếu thông tin, áp lực công việc, và sự hỗ trợ không đầy đủ từ các cơ quan chức năng. Việc không có sự giám sát chặt chẽ từ phía nhà nước cũng là một yếu tố quan trọng.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quản Lý Lao Động Nước Ngoài

Quản lý lao động nước ngoài gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc giám sát và hỗ trợ người lao động. Các chính sách hiện tại chưa đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng bỏ trốn, dẫn đến việc nhiều lao động không được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

2.1. Các Thách Thức Trong Chính Sách Lao Động

Chính sách lao động hiện tại còn nhiều bất cập, như thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp phái cử. Điều này dẫn đến việc người lao động không nhận được sự hỗ trợ cần thiết khi gặp khó khăn.

2.2. Hệ Lụy Của Tình Trạng Bỏ Trốn

Tình trạng lao động bỏ trốn không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn tác động tiêu cực đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Các quốc gia tiếp nhận lao động có thể sẽ hạn chế hoặc ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam.

III. Phương Pháp Giải Quyết Tình Trạng Lao Động Bỏ Trốn

Để hạn chế tình trạng lao động bỏ trốn, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả từ kinh nghiệm của Nhật Bản và các quốc gia khác. Việc cải cách chính sách và tăng cường giám sát là rất quan trọng.

3.1. Cải Cách Chính Sách Lao Động

Cần có sự cải cách trong chính sách lao động để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Việc xây dựng các quy định rõ ràng và minh bạch sẽ giúp người lao động yên tâm hơn khi làm việc ở nước ngoài.

3.2. Tăng Cường Giám Sát Và Hỗ Trợ

Tăng cường giám sát các doanh nghiệp phái cử và hỗ trợ người lao động trong suốt quá trình làm việc là rất cần thiết. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp cụ thể để theo dõi và hỗ trợ kịp thời.

IV. Kinh Nghiệm Từ Nhật Bản Trong Quản Lý Lao Động

Nhật Bản đã áp dụng nhiều biện pháp hiệu quả để quản lý lao động nước ngoài, từ đó giảm thiểu tình trạng bỏ trốn. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của Nhật Bản có thể giúp Việt Nam cải thiện tình hình.

4.1. Chính Sách Tiếp Nhận Lao Động Của Nhật Bản

Chính sách tiếp nhận lao động của Nhật Bản rất chặt chẽ, với các quy định rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động. Điều này giúp người lao động cảm thấy an toàn và có trách nhiệm hơn.

4.2. Các Biện Pháp Hỗ Trợ Người Lao Động

Nhật Bản cung cấp nhiều chương trình hỗ trợ cho người lao động, từ đào tạo kỹ năng đến tư vấn pháp lý. Những biện pháp này giúp người lao động dễ dàng thích nghi với môi trường làm việc mới.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Chính Sách Tương Lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần có sự thay đổi trong chính sách và cách thức quản lý lao động nước ngoài. Việc áp dụng các biện pháp hiệu quả sẽ giúp hạn chế tình trạng lao động bỏ trốn và bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Cải Cách

Cần có các đề xuất cụ thể về cải cách chính sách lao động, bao gồm việc tăng cường giám sát và hỗ trợ người lao động. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường làm việc an toàn và công bằng.

5.2. Tương Lai Của Lao Động Việt Nam Ở Nước Ngoài

Tương lai của lao động Việt Nam ở nước ngoài phụ thuộc vào việc cải thiện chính sách và quản lý. Nếu các biện pháp được thực hiện hiệu quả, tình trạng bỏ trốn sẽ giảm và người lao động sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh biện pháp hạn chế lao động bỏ trốn ở nước ngoài qua thực tiễn đưa tu nghiệp sinh việt nam sang làm việc tại nhật bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 sẽ mô tả bối cảnh nghiên cứu, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- Chương 2 sẽ làm rõ khái niệm hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; bộ qui tắc ROCCIPI; tổng hợp một số nghiên cứu; kinh nghiệm một số nước trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Sau đó, Chương 3 sẽ làm rõ thực trạng tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản, nguyên nhân tu nghiệp sinh bỏ trốn và tác động của việc bỏ trốn này. Chương 4 sẽ mô tả mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nêu lên vai trò của Nhà nước và dùng bộ qui tắc ROCCIPI để phân tích tính điều chỉnh của pháp luật Việt Nam hiện hành lên hiện tượng bỏ trốn của tu nghiệp sinh.

Cuối cùng, Chương 5 sẽ rút ra kết luận từ kết quả phân tích ở các chương trước và từ kinh nghiệm các nước đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm hạn chế lao động Việt Nam bỏ trốn ở nước ngoài. Ngoài ra, chương này cũng nêu lên các hạn chế của đề tài và những gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 2.

Khái niệm về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Ở Việt Nam, hoạt động đưa người lao động sang nước khác làm việc ban đầu được gọi là hợp tác quốc tế về lao động, từ năm 1991 thì được gọi là đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn. Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng vào thập niên 80 khi Nhà nước trực tiếp tuyển dụng và cung ứng lao động dựa vào nhu cầu lao động của các nước xã hội chủ nghĩa cũ, một số nước châu Phi và Trung Đông theo các hiệp định của chính phủ (Lưu Văn Hưng, 2005). Sau khi Nghị định (NĐ) 370-HĐBT được ban hành vào năm 1991, thuật ngữ được sử dụng là đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn. Nhà nước không còn trực tiếp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài mà cấp phép cho các tổ chức kinh tế đảm nhiệm.

Hoạt động đưa người ra nước ngoài nhằm các mục tiêu là kinh tế (thu nhập của người lao động và thu ngoại tệ cho đất nước), xã hội (giải quyết việc làm) và quan hệ quốc tế (hợp tác kinh tế, khoa học – kỹ thuật,. Bốn hình thức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được qui định trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được ban hành ngày 29/11/2006 là (i) hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; (ii) hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; (iii) hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; (iv) hợp đồng cá nhân người lao động ký trực tiếp với cá nhân, tổ chức nước ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bộ qui tắc ROCCIPI Ann Seidman và đ.g (2004) đưa ra bộ qui tắc ROCCIPI.

Bộ qui tắc ROCCIPI gồm bảy yếu tố góp phần tác động tạo ra hành động của chủ thể liên quan: Qui tắc, Cơ hội, Năng lực, Truyền đạt, Lợi ích, Quy trình và Nhận thức. Dùng bộ qui tắc ROCCIPI để phân tích tính điều chỉnh của pháp luật có thể giúp khẳng định sự phù hợp của luật hiện hành. Nếu phân tích cho thấy pháp luật không điều chỉnh được hành động của chủ thể liên quan thì có thể nhận định rằng luật hiện hành cần được cải cách. Các nghiên cứu về chính sách tiếp nhận lao động nước ngoài của Nhật Bản Nghiên cứu “Foreign Workers in Japan: Reality and Challenges” của Tezuka (2004) Nghiên cứu “Foreign Workers in Japan: Reality and Challenges” của Tezuka (2004) cho biết đã có sự gia tăng về số lượng các cuộc tranh luận liên quan đến lao động người nước ngoài tại Nhật Bản vào năm 2014 và tường thuật lại quá trình phát triển của chính sách tiếp nhận lao động của nước này.

Đầu những năm 90, Nhật Bản ngày càng thiếu hụt lao động. Đã có những đề nghị cho phép nhập cư những lao động kỹ năng thấp và thu nhập thấp ở các nước châu Á khác vào làm việc một thời gian và trở về nước sau vài năm. Tuy nhiên, cũng có sự đề phòng nhất định do những bài học kinh nghiệm từ Cộng hòa Liên Bang Đức trước đó cho thấy là các lao động nhập cư sau khi hết thời hạn lao động vẫn tiếp tục ở lại và làm việc một cách bất hợp pháp ở trên khắp nước Đức. Nhưng sau khi xảy ra bong bóng kinh tế, Nhật Bản từ một nước thiếu hụt lao động đã trở nên dư thừa lao động, nên Chính phủ chỉ thực hiện chính sách chấp nhận những lao động trình độ cao trong một số lĩnh vực nhất định.

Cuối những năm 80, các nước Nam Mỹ xảy ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, siêu lạm phát đến 2000%/năm, những Nhật kiều ở Brazil và Peru bắt đầu tìm đường đi ra nước ngoài làm việc, trong đó có Nhật Bản. Lần đầu tiên từ sau Thế chiến thứ II, tất cả các lĩnh vực đã được Nhật Bản mở rộng cho các Nhật kiều từ Brazil và Peru. Những người này không chỉ đến làm và trở về sau một thời gian mà còn dẫn theo gia đình, anh chị em đến theo. Điều này dẫn đến số người định cư và xin tạm trú vô thời hạn tăng mạnh.

Hệ quả của việc này là xã hội Nhật bị quá tải trong việc cung ứng việc làm, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, giáo dục trẻ em và số tội phạm vị thành niên tăng cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Trong thời gian này, tương tự như các nước phát triển khác, Nhật Bản đối mặt với các vấn đề liên quan đến lao động bất hợp pháp người nước ngoài, những người không được bảo vệ bởi Luật Lao động và Việc làm của Nhật Bản. Phần lớn trong số họ phải ở lại Nhật mà không được bảo vệ về mặt nhân quyền, luật lao động hay an sinh xã hội. Họ phải làm việc trong những điều kiện làm việc không tốt, mà người Nhật sẽ không làm, với mức lương thấp, tăng ca nhiều, thường xuyên đối mặt với tai nạn lao động.

Họ cũng góp phần làm gia tăng tình trạng tội phạm tại Nhật Bản. Gần đây, với dự báo về xu hướng giảm của dân số, có nhiều ý kiến cho rằng Nhật Bản nên rộng mở cho người nước ngoài đề bù đắp lượng lao động thiếu hụt, và hy vọng kéo theo đó là sự di chuyển của dòng vốn và hàng hóa, khi mà sự di chuyển tự do dòng vốn, hàng hóa và con người đang tạo nên một hệ thống thế giới mới. Nhật Bản lại đối mặt với các vấn đề liên quan đến lao động bất hợp pháp người nước ngoài. Mặc dù các tổ chức công đoàn đã lên tiếng đấu tranh cho các quyền lợi của lao động nước ngoài không có kỹ năng, nhưng quyền lợi của những lao động này vẫn khó được đảm bảo.

Do sự yếu kém trong việc thực thi một số điều luật liên quan đến lao động, nên những người môi giới lao động vẫn có thể ký hợp đồng ngắn hạn (2 - 3 tháng) với các lao động người nước ngoài, dù ký hợp đồng như vậy là bất hợp pháp. Ký những hợp đồng ngắn hạn này, lao động phải chuyển việc liên tục, thường phải tăng ca để kiếm thêm thu nhập, và không có bất kỳ loại bảo hiểm nào. Bản thân người lao động cũng có động cơ không tham gia vào các chế độ bảo hiểm để có thể tiết kiệm được nhiều tiền hơn trong thời gian làm việc tại Nhật Bản. Tezuka (2004) cho rằng Nhật Bản cần phải nghiêm khắc hơn trong việc thực thi tuyển dụng lao động và áp dụng các luật liên quan đến lao động để hạn chế các vấn đề này.

Nghiên cứu “Labor law and policy issues relating to foreign workers in Japan” của Hayakawa (2010) Nghiên cứu “Labor law and policy issues relating to foreign workers in Japan” của Hayakawa (2010) nêu lên hai nguyên tắc cơ bản liên quan đến chính sách đối với người nước ngoài là nguyên tắc chọn lọc và nguyên tắc tích hợp. Nguyên tắc chọn lọc nghĩa là mỗi nước có quyền tự do chọn lựa cho người nước ngoài nào vào nước mình hay không, và được quyết định bởi luật nhập cư của nước đó. Nguyên tắc hội nhập là việc xem những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- người nước ngoài như là một công dân của xã hội đó qua các hoạt động họ được phép tham gia, và thường được qui định bởi luật lao động. Khi xem xét các vấn đề liên quan đến người nước ngoài cần xem xét dưới tác động của chính sách nhập cư và chính sách lao động và sự tương tác của hai chính sách này.

Bối cảnh chính sách liên quan đến lao động nước ngoài tại Nhật Bản Nguồn: Hayakawa (2010), Hình 1, trang 21. Tu nghiệp sinh Việt Nam cũng sẽ chịu sự chi phối đồng thời của hai chính sách này. Theo Đạo luật Quản lý Xuất nhập cảnh của Nhật Bản trước năm 2010, tu nghiệp sinh năm thứ nhất sẽ lưu trú với tư cách tu nghiệp sinh và năm thứ 2, thứ 3 sẽ lưu trú với tư cách Thực tập sinh (Phụ lục 2). Sau năm 2010, Đạo luật Quản lý Xuất nhập cảnh có sự thay đổi, tu nghiệp sinh năm thứ nhất sẽ lưu trú với tư cách thực tập sinh kỹ năng I, và sau khi đậu một kỳ thi kiểm tra kỹ năng thì sẽ tiếp tục ở lại năm thứ 2, thứ 3 với tư cách thực tập sinh kỹ năng II.

Các lao động nước ngoài làm việc không có giấy phép của Cục Xuất nhập cảnh sẽ bị xem là lao động bất hợp pháp. Việc tuyển dụng những lao động này sẽ được xem tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phạm pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ