Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, vừa giải quyết việc làm cho nguồn nhân lực trẻ, vừa mang lại nguồn ngoại tệ dồi dào từ 1,6 tỷ USD đến 2 tỷ USD mỗi năm, trong đó thị trường Nhật Bản đóng góp trên 300 triệu USD và Hàn Quốc đóng góp hơn 700 triệu USD. Theo số liệu của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã đưa 55.205 lao động đi làm việc tại các quốc gia và vùng lãnh thổ, với Nhật Bản tiếp nhận 2.574 người và Đài Loan tiếp nhận 5.058 người. Tuy nhiên, tình trạng người lao động tự ý phá vỡ hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài cư trú và làm việc bất hợp pháp đang gia tăng ở mức báo động. Điển hình tại thị trường Nhật Bản, tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn năm 2013 lên tới 10%, cao nhất trong số các quốc gia phái cử. Tình trạng này từng khiến Hàn Quốc ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam vào năm 2012 khi tỷ lệ bỏ trốn chạm ngưỡng 57%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc nhận diện các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hành vi bỏ trốn của tu nghiệp sinh, đánh giá vai trò quản lý của Nhà nước và những khoảng trống pháp lý trong hệ thống chính sách hiện hành giai đoạn 2010 đến 2015. Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích thực trạng phái cử tu nghiệp sinh sang Nhật Bản, áp dụng khung đánh giá thể chế để chỉ ra các bất cập trong quản trị công, đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm từ Philippines và Thái Lan. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách, hướng tới mục tiêu kéo giảm tỷ lệ lao động bỏ trốn xuống dưới 3%, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và duy trì uy tín của thị trường lao động Việt Nam trên trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng bộ quy tắc phân tích pháp luật và thể chế ROCCIPI do Ann Seidman và các cộng sự phát triển năm 2004. Bộ công cụ này giải thích hành vi của các chủ thể xã hội thông qua 7 yếu tố cấu thành: Quy tắc (Rule), Cơ hội (Opportunity), Năng lực (Capacity), Truyền đạt (Communication), Lợi ích (Interest), Quy trình (Process) và Ý thức hệ (Ideology). Việc áp dụng ROCCIPI giúp làm rõ tại sao các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ sức răn đe hoặc điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp phái cử và người lao động.

Bên cạnh đó, luận văn sử dụng khung lý thuyết về chính sách lao động di cư của Hayakawa (2010), xây dựng trên 2 nguyên tắc nền tảng: nguyên tắc chọn lọc quyết định đối tượng nhập cư theo luật xuất nhập cảnh và nguyên tắc tích hợp bảo đảm quyền lợi công dân theo luật lao động. Nghiên cứu cũng làm rõ 4 khái niệm then chốt bao gồm: chương trình đào tạo thực tập kỹ năng 3 năm, doanh nghiệp dịch vụ phái cử, đoàn thể giám sát tại nước tiếp nhận và tình trạng cư trú bất hợp pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phân tích dữ liệu thứ cấp và điều tra thực chứng định tính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ của Tổ chức Hợp tác Đào tạo Quốc tế Nhật Bản (JITCO) giai đoạn 2010 đến 2015, số liệu quản lý của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước và hệ thống 16 văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Về nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 8 tu nghiệp sinh Việt Nam từng tham gia chương trình thực tập kỹ năng tại các tỉnh như Shizuoka, Aichi và Osaka trong các giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kỹ thuật thuận tiện kết hợp quả bóng tuyết (snowball sampling) được áp dụng để tiếp cận các đối tượng đã hoàn thành hợp đồng về nước hoặc từng có trải nghiệm thực tế tại các nghiệp đoàn Nhật Bản. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính chuyên sâu kết hợp thể chế ROCCIPI là nhằm bóc tách những chi phí ngầm, thỏa thuận phi chính thức và các rào cản thông tin mà các bảng hỏi định lượng trên diện rộng khó có thể thu thập chính xác do tính chất nhạy cảm của hành vi vi phạm hợp đồng. Toàn bộ quá trình tổng hợp và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn từ cuối năm 2014 đến giữa năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản luôn ở mức cao nhất so với các quốc gia trong khu vực. Dữ liệu thống kê cho thấy năm 2013, tỷ lệ tu nghiệp sinh thực tập kỹ năng bậc hai bỏ trốn của Việt Nam là 10%, gấp 2 lần so với Trung Quốc (5%), gấp 2,5 lần so với Indonesia (4%) và Thái Lan (4%). Tính trung bình, cứ 10 tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản thì có 1 người tự ý phá vỡ hợp đồng để ra ngoài làm việc bất hợp pháp.

Thứ hai, gánh nặng tài chính ban đầu quá lớn là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy người lao động trốn ra ngoài để tối đa hóa thu nhập. Chi phí thực tế để một lao động đi tu nghiệp tại Nhật Bản dao động từ 100 triệu đến 220 triệu đồng (tương đương khoảng 7.500 USD). Mặc dù phía Nhật Bản ban hành quy định cấm thu tiền ký quỹ từ năm 2010, người lao động vẫn phải chi trả các khoản tiền đặt cọc chống trốn từ 2.000 USD đến 3.500 USD và chi phí môi giới ngoài luồng lên tới 2.000 USD để được xuất cảnh sớm sau 4,5 tháng thay vì phải chờ đợi 2 năm.

Thứ ba, tồn tại sự bất bình đẳng lớn về thu nhập và điều kiện làm việc thực tế. Sau khi khấu trừ các khoản thuế, bảo hiểm và chi phí sinh hoạt, mức thu nhập thực nhận của tu nghiệp sinh chỉ đạt khoảng 85.189 yên mỗi tháng (tương đương 15,5 triệu đồng), chỉ bằng 50% đến 70% mức lương từ 1.500 USD đến 2.500 USD của lao động bản xứ làm việc ở cùng vị trí.

Thứ tư, năng lực quản lý và hỗ trợ người lao động ở nước ngoài của hệ thống công quyền còn nhiều hạn chế. Cả nước có 167 doanh nghiệp dịch vụ phái cử quản lý gần 300.000 lao động tại 40 thị trường quốc tế, nhưng chỉ có vẻn vẹn 22 văn phòng đại diện được thành lập ở nước ngoài để theo dõi và hỗ trợ trực tiếp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bỏ trốn của tu nghiệp sinh tạo nên một vòng luẩn quẩn thể chế tiêu cực. Khi phát sinh lao động bỏ trốn, các đối tác nước ngoài áp dụng chế tài phạt doanh nghiệp phái cử. Để phòng ngừa rủi ro, doanh nghiệp Việt Nam lại gia tăng tiền thế chấp và nâng mức phí dịch vụ. Chi phí ban đầu càng cao buộc người lao động phải gánh những khoản nợ vay lãi suất lớn từ 100 triệu đồng trở lên, tạo áp lực kinh tế nặng nề khiến họ sẵn sàng trốn ra ngoài tìm việc có thu nhập cao hơn để hoàn vốn.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo của Tezuka (2004) về sự tồn tại của thị trường lao động ngầm tại Nhật Bản và nghiên cứu của Lưu Văn Hưng (2005) về phản ứng dây chuyền khi thị trường tiếp nhận đóng cửa. Hiện tượng các nghiệp đoàn và doanh nghiệp tiếp nhận cấu kết để cắt xén thu nhập của người lao động (chỉ trả 50.000 yên đến 75.000 yên mỗi tháng) phản ánh sự thất bại của cơ chế giám sát thực thi pháp luật.

Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa số lượng tu nghiệp sinh xuất cảnh và tỷ lệ bỏ trốn giai đoạn 2010 đến 2014 có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ kết hợp cột và đường (combo chart). Trong đó, các cột thể hiện tốc độ tăng trưởng quy mô lao động Việt Nam (vươn lên vị trí thứ 2 với 6.187 người năm 2014, thu hẹp khoảng cách với Trung Quốc từ mức chênh lệch 10 lần năm 2010 xuống còn 2,6 lần năm 2014), trong khi đường biểu diễn tỷ lệ phần trăm bỏ trốn phản ánh độ dốc tăng mạnh vượt trội so với các nước ASEAN. Đồng thời, một bảng ma trận đánh giá 7 biến số ROCCIPI sẽ làm rõ sự đối lập giữa khung pháp lý chặt chẽ của Philippines (với 45 văn phòng đại diện lao động tại 32 quốc gia) và sự thiếu hụt thiết chế bảo vệ của Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện mô hình tổ chức quản trị nhà nước từ trung ương đến địa phương. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần chỉ đạo Cục Quản lý Lao động Ngoài nước thành lập các trung tâm hỗ trợ xuất khẩu lao động tại 10 tỉnh, thành phố có lượng người đi làm việc ở nước ngoài lớn nhất. Đồng thời, thành lập thêm tối thiểu 3 văn phòng đại diện quản lý lao động tại các vùng tập trung đông tu nghiệp sinh tại Nhật Bản như Shizuoka, Aichi và Osaka trong giai đoạn 2016 đến 2018, bảo đảm cập nhật thông tin minh bạch và cung cấp đường dây nóng hỗ trợ 24/7.

Thứ hai, siết chặt quy chế cấp phép và tăng cường giám sát 100% các doanh nghiệp phái cử. Cục Quản lý Lao động Ngoài nước cần ban hành quy định bắt buộc các doanh nghiệp dịch vụ phải bố trí tối thiểu 1 cán bộ quản lý trực tiếp tại nước sở tại cho mỗi định mức 500 lao động phái cử. Thực hiện thanh tra định kỳ, kiên quyết đình chỉ hoạt động và thu hồi giấy phép đối với các đơn vị để tỷ lệ bỏ trốn vượt quá 5% hoặc có hành vi thu tiền đặt cọc trái phép, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa chi phí xuất cảnh trọn gói dưới 3.600 USD trước năm 2017.

Thứ ba, tái cấu trúc chức năng của Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì sửa đổi quy chế hoạt động của Quỹ, mở rộng phạm vi chi trả bảo hiểm và hỗ trợ pháp lý cho người lao động khi phát sinh tranh chấp hợp đồng với chủ sử dụng lao động, giảm thiểu 50% số vụ việc khiếu nại không được giải quyết kịp thời trong giai đoạn 2016 đến 2018.

Thứ tư, xây dựng chương trình kết nối việc làm và tái hòa nhập bền vững cho tu nghiệp sinh hồi hương. Trung tâm Lao động Ngoài nước phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam tổ chức các phiên giao dịch việc làm chuyên đề, kết nối 100% tu nghiệp sinh hết hạn hợp đồng về nước với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bảo đảm mức thu nhập khởi điểm từ 10 triệu đến 15 triệu đồng mỗi tháng nhằm triệt tiêu động cơ cư trú bất hợp pháp ngay từ quý 1 năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Chuyên viên tại Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Vụ Pháp chế thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng Sở Lao động các địa phương có thể ứng dụng khung phân tích ROCCIPI để rà soát, sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Cán bộ điều hành tại 167 doanh nghiệp phái cử có thể tham khảo các bài học thực tiễn để hoàn thiện quy trình tuyển dụng minh bạch, nâng cao chất lượng khóa đào tạo định hướng 6 tháng và thiết lập cơ chế đồng hành, hỗ trợ người lao động tại nước sở tại.

Thứ ba, các học giả, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Xã hội học: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết đa ngành kết hợp nghiên cứu trường hợp chuyên sâu về lao động di cư quốc tế, phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu thực chứng.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực di cư và quyền lao động: Các tổ chức như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) có thể khai thác các cứ liệu thực tế để thiết kế các chương trình bảo trợ xã hội và đối thoại chính sách hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản nào khiến tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản lên tới 10% trong năm 2013? Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ áp lực trả các khoản nợ vay từ 100 triệu đến 220 triệu đồng chi phí ban đầu, kết hợp với mức thu nhập thực nhận sau giảm trừ khá thấp chỉ đạt khoảng 85.189 yên mỗi tháng. Khi gặp bất đồng về điều kiện làm việc mà không có cơ quan công quyền bảo vệ, người lao động dễ bị các tổ chức môi giới ngầm lôi kéo ra ngoài làm việc bất hợp pháp.

Chính sách tiếp nhận tu nghiệp sinh của Nhật Bản đã thay đổi căn bản như thế nào kể từ năm 2010? Từ năm 2010, Nhật Bản chuyển đổi toàn bộ danh xưng tu nghiệp sinh sang thực tập sinh kỹ năng, chia làm 2 giai đoạn: kỹ năng một cho năm đầu và kỹ năng hai cho 2 năm tiếp theo sau khi thi đỗ sát hạch. Điểm quan trọng nhất là các quy định mới nghiêm cấm tuyệt đối việc thu tiền ký quỹ của người lao động và áp dụng đầy đủ Luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản ngay từ tháng thứ hai.

Bộ quy tắc ROCCIPI đã chỉ ra những điểm nghẽn thể chế nào trong công tác quản lý lao động phái cử của Việt Nam? ROCCIPI chỉ rõ quy định trách nhiệm quản lý của doanh nghiệp ở nước ngoài còn mang tính hình thức (yếu tố Rule), việc thiếu vắng văn phòng đại diện tạo kẽ hở cho doanh nghiệp buông lỏng giám sát (yếu tố Opportunity) và năng lực quản lý nhân sự phân tán giữa trung ương với địa phương chưa đồng bộ (yếu tố Capacity), dẫn đến quy trình xử lý vi phạm bị kéo dài và kém hiệu quả (yếu tố Process).

Việt Nam có thể tiếp thu bài học quản lý lao động di cư nào từ mô hình thành công của Philippines? Philippines duy trì bộ máy quản lý chuyên trách gồm POEA và OWWA, phát triển mạng lưới 45 văn phòng lao động POLO tại 32 quốc gia để bảo vệ công dân tại chỗ. Đồng thời, họ áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc phạt tù 6 năm đối với môi giới trái phép, miễn thuế thu nhập và thực hiện các gói tín dụng vi mô hỗ trợ tái hòa nhập toàn diện khi người lao động hồi hương.

Làm thế nào để hạn chế tình trạng doanh nghiệp phái cử lách luật thu các khoản phí dịch vụ vượt mức quy định? Cần công khai biểu phí dịch vụ chuẩn hóa dưới 3.600 USD trên cổng thông tin quốc gia, thực hiện thanh tra toàn diện 100% doanh nghiệp và khoanh vùng địa bàn tuyển dụng theo năng lực đào tạo thực tế. Đồng thời, bắt buộc các hợp đồng cung ứng phải được kiểm duyệt chặt chẽ và xử lý nghiêm các trường hợp thu tiền thông qua môi giới trung gian.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về hoạt động phái cử tu nghiệp sinh sang Nhật Bản, chỉ ra những nguyên nhân cấu trúc dẫn đến tình trạng lao động bỏ trốn và khẳng định tính cấp thiết của việc cải cách thể chế quản trị nhà nước.

Năm phát hiện cốt lõi và đóng góp chính của công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Nhận diện tỷ lệ bỏ trốn 10% của tu nghiệp sinh Việt Nam là hệ quả của áp lực tài chính chi phí xuất cảnh từ 100 triệu đến 220 triệu đồng và sự chênh lệch thu nhập thực tế.
  • Ứng dụng thành công khung phân tích ROCCIPI để bóc tách 7 nhóm điểm nghẽn thể chế trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
  • Chứng minh sự bất cập nghiêm trọng trong năng lực hỗ trợ thực địa khi 167 doanh nghiệp phái cử chỉ thiết lập được 22 văn phòng đại diện ở nước ngoài.
  • Đúc kết các bài học quản trị công có giá trị từ kinh nghiệm quốc tế của Philippines và Thái Lan để hoàn thiện mô hình bảo hộ lao động di cư.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với mục tiêu kéo giảm tỷ lệ bỏ trốn xuống dưới 3% và hỗ trợ tái hòa nhập việc làm với mức lương từ 10 triệu đến 15 triệu đồng mỗi tháng.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2016 đến 2018, bắt đầu bằng việc rà soát, sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và kiện toàn hệ thống văn phòng đại diện tại các tỉnh trọng điểm của Nhật Bản ngay trong năm 2016.

Các nhà quản lý, doanh nghiệp dịch vụ và các nhà nghiên cứu hãy chung tay chuẩn hóa quy trình phái cử, minh bạch hóa mọi chi phí tuyển dụng và xây dựng mạng lưới an sinh xã hội vững chắc, nhằm chuyển hóa hoạt động xuất khẩu lao động thành động lực phát triển nhân lực chất lượng cao bền vững cho đất nước.