mở đầu cho thời kì Bắc thuộc của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc. Tư liệu lịch sử pháp luật của thời kì này rất ít ỏi nhưng có thể thấy hai nguồn pháp luật là luật pháp của phong kiến Trung hoa được đem sang áp dụng ở nước ta và luật lệ cổ truyền của người Việt. Trong suốt quá trình thống trị nước ta, chính quyền đô hộ không thể trực tiếp cai trị tới cấp xã nên phải thừa nhận tồn tại hiệu lực thực tế của luật lệ người Việt. Luật lệ này được coi là phương tiện hữu hiệu của nhân dân ta chống lại ách nô dịch và m mưu đồng hóa của chính quyền phương Bắc.
Từ năm 939, Ngô Quyền xưng vương, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của chế độ phong kiến Trung Hoa. Triều đại nhà Ngô tồn tại 26 năm (939- 965). Thời kì 12 lãnh chúa phong kiến nổi dậy cát cứ, tranh giành lãnh địa, quyền lực mà sử sách gọi là “loạn 12 sứ qu n” kéo dài hơn 20 năm (944 - 968) và thời kì nhà Đinh tồn tại 12 năm (968 - 980), sau đó là thời kì nhà Tiền Lê (980 - 1009). Trong suốt thời kì này, vì chế độ chính trị không ổn định nên Nhà nước phong kiến Việt Nam chưa quan t m đến hoạt động lập pháp nên không có tư liệu để đánh giá thực trạng pháp luật trong giai đoạn này.
Trong 215 năm (1009 - 1225) tồn tại của triều đại nhà Lý, vào năm 1024, vua Lý Thái Tông cho sửa lại luật lệ, biên tập điều khoản của Bộ hình thư với 03 tập. Đ y là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta nhưng đáng tiếc là không tìm được nó. Sử sách chỉ ghi được một số chiếu do các vua nhà Lý ban hành trong đó có nội dung về tố tụng hình sự nhưng chưa phát hiện nội dung liên quan về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Tiếp đó, triều đại nhà Trần tồn tại 175 năm (1225 - 1400), vào năm 1230, vua Trần Thái Tông cho khảo định lại các luật lệ của các triều vua trước đó, sửa đổi hình luật, lễ nghi, soạn thành Quốc triều hình luật, gồm 20 quyển.
Đến năm 1342, vua Trần Dụ Tông lệnh cho Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn Bộ hình thư để ban hành. Tuy nhiên, hiện nay cả hai bộ luật này đều không tìm thấy. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi đánh tan qu n x m lược nhà Minh, giành lại độc lập, chủ quyền, triều đại nhà Lê tồn tại 355 năm (1428 - 1527 và 1533 - 1789), phát triển rực rỡ ở thời kì Lê sơ. Thời kì Lê sơ đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện nhất của cổ luật phong kiến với sự ra đời của bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) vào năm 1483.
Bộ luật được cấu trúc theo chương và điều luật. Trong Bộ luật đã có nhiều quy định liên quan đến các biện pháp mang tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự như bắt, giam, giữ, giải, tịch thu tài sản sung công; tập trung tại các chương Đoán ngục (xử án) và chương Bộ vong (bắt tội phạm chạy trốn); ngoài ra các chương khác như Vệ cấm, Vi chế, Quân chính, Thông gian, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy đều có các quy định bảo đảm thực hiện các biện pháp mang tính cưỡng chế như quy định trách nhiệm hình sự đối với người thiếu trách nhiệm trọng áp dụng biện pháp mang tính cưỡng chế: “Tướng súy phụng mệnh đi bắt những tội nhân bỏ trốn mà dùng dằng không đi ngay thì xử tội biếm hay tội đồ.” [33, Điều 645]; “Những tù bị giam, kẻ nào đáng giam mà không giam, đáng gông cùm mà không gông cùm, hay cho bỏ cùm.thì người coi tù bị phạt 60 trượng” [33, Điều 658]. Sau khi đánh bại nhà T y Sơn, Nguyễn Phúc Ánh lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long, thiết lập triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Vua Gia Long giao cho Nguyễn Văn Thành phụ trách soạn thảo bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) có hiệu lực thi hành từ năm 1813.
Bộ luật Gia Long là một bộ luật hoàn chỉnh được cấu tạo bởi 22 quyển, 398 điều luật. Trong các quyển 18, 19 của Bộ luật có rất nhiều quy định về việc bắt và giam, giữ, giải; đáng chú ý có một số quy định thể hiện tư tưởng nh n đạo trong việc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế như chế độ giam giữ với người không có gia thuộc (th n nh n, gia đình chăm nom), người đau yếu như: “Phàm tù bị giam trong ngục mà không có gia thuộc, thì phải xin cấp áo cơm, có bệnh thì phải xin cấp thuốc men cho họ, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nếu không xin cấp, gặp lúc họ bệnh nặng (trừ tử tội không được mở khóa trói) đều phải mở xiềng. Tuy nhiên, cũng như Quốc triều hình luật, Bộ luật Gia Long hay nói chung là pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn phong kiến mặc dù có quy định về các biện pháp mang tính cưỡng chế như bắt, giam, giữ, giải, tịch thu tài sản, niêm phong tài sản. nhưng vẫn chưa tách biệt các biện pháp mang tính cưỡng chế trong giai đoạn điều tra với hình phạt trong giai đoạn thi hành án, mà đều sử dụng chung các thuật ngữ là bắt, giam, giam cấm, giải, tịch thu tài sản sung công.
Thời kì sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước 1975 Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã lật đổ hoàn toàn bộ máy nhà nước phong kiến - thực dân và dẫn đến sự ra đời của Nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong lúc chính quyền non trẻ phải đối mặt với nạn đói và thù trong giặc ngoài nhưng hoạt động lập pháp vẫn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 được ban hành. Với những quy định: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ, giam cầm người công dân Việt Nam” [14, Điều 11] và “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật.” [14, Điều 7] là cơ sở pháp lý cho việc ban hành quy định về bắt trong Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán và Sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức tư pháp công an.
Theo đó, đã có quy định về bắt bớ, giam giữ, giải bị can, thu giữ tang vật, niêm phong tài sản, khám nhà. với trình tự, thủ tục nhất định cần tuân theo; cụ thể: “Ban tư pháp xã không có quyền tịch thu tài sản của ai. Cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai trừ khi có trát nã của một thẩm phán, hay khi thấy người phạm tội quả tang.” [9, Điều 4] 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Khi bắt người trong hai trường hợp kể trên, ban Tư pháp phải lập biên bản hỏi cung, và giải bị can lên ngay Toà án trên, trong hạn 24 giờ là cùng.” [9, Điều 5] “Nếu cần, ban tư pháp có thể khám xét nhà các tư nhân, để thu giữ tang vật, song phải lập biên bản minh bạch và không được xâm phạm đến các đồ vật khác. Các tang vật thu giữ phải bao gói cẩn thận và niêm phong rồi đệ ngay lên Toà án trên.” [9, Điều 6] “Muốn khám nhà ngoài trường hợp phạm pháp quả tang thì phải khám sau 6 giờ sáng và trước 6 giờ chiều.
Nếu đã bắt đầu khám trước 6 giờ chiều thì vẫn có quyền tiếp tục việc khám nhà đến khi xong. Trong các nhà mở cho công chúng tự do xuất nhập, thí dụ cao, hàng cà phê, nhà hay gá cờ bạc vân vân, thì giờ có thể khám nhà lùi đến lúc khách hàng hoặc người làm việc phạm pháp ra về hết. [9, Điều 7] “Sau khi khám nhà, nếu bắt được hay không bắt được tang vật, đều phải có biên bản. Biên bản này phải kê rõ đã tịch thu những tang vật gì, niêm phong như thế nào, giao cho ai.
Chủ nhà bị khám sẽ ký vào biên bản; chủ nhà vắng mặt thì thân nhân ký thay. Nếu chủ nhà hoặc thân nhân không chịu ký, không biết ký hoặc không thể ký được thì nói rõ trong biên bản.” [9, Điều 9] Đặc biệt, với Luật số 103/SL-L005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã có quy định cụ thể về các trường hợp bắt người phạm pháp; tạm giữ, tạm giam, tạm tha; khám người, khám đồ vật, khám nhà ở và thư tín. Tiếp đó, Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công d n nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nh n d n” [15, Điều 27] và “Pháp luật 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo đảm nhà ở của công d n nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật” [15, Điều 9].
Cụ thể hóa các quy định trên, Thông tư số 427/TT-LB ngày 28/6/1963 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an đã xác định thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước và trách nhiệm phê chuẩn của Viện kiểm sát, theo đó: “Cơ quan Công an chỉ được tiến hành bắt, khám người, khám nhà, giữ lại thư tín, tạm giữ hoặc kê biên tài sản, tạm giam, gia hạn giam, miễn tố, tạm tha bị can khi đã được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Để có căn cứ cho việc phê chuẩn, cơ quan Công an cần gửi đến Viện kiểm sát hồ sơ gồm những tài liệu cần thiết đã thu thập được. Nếu thấy chưa đủ căn cứ, thì Viện kiểm sát yêu cầu cung cấp thêm tài liệu. Viện kiểm sát có trách nhiệm nghiên cứu phê chuẩn nhanh chóng để phục vụ kịp thời cuộc đấu tranh chống phạm tội” [29, Điểm 2, Chương II].