Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về các biện pháp cƣỡng chế khác trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp cƣỡng chế khác trong BLTTHS 2015 (từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội) Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về các biện pháp cƣỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 11 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ KHÁC TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các biện pháp cƣỡng chế khác trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Biện pháp cƣỡng chế khác là một trong những biện pháp cƣỡng chế hay nói đầy đủ hơn là các biện pháp mang tính cƣỡng chế là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong khoa học pháp lý. Về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 1999 thì cƣỡng chế là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền”.
Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tƣ pháp ấn hành năm 2006 thì cƣỡng chế là “buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Chỉ tổ chức hay cá nhân đƣợc pháp luật quy định mới đƣợc ra quyết định cƣỡng chế, quyết định lực lƣợng cƣỡng chế. Cƣỡng chế phải đƣợc tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ. Cá nhân hay tổ chức là đối tƣợng cƣỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không đƣợc làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân.
Biện pháp sử dụng trong cƣỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thƣờng đƣợc áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không đƣợc thực hiện một cách tự nguyện ”. Để bảo đảm cho việc thực thi pháp luật, ngoài phƣơng thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục, thuyết phục mọi chủ thể tự giác tuân thủ thì bất kỳ Nhà nƣớc nào cũng sử dụng các biện pháp có tính cƣỡng chế bằng pháp luật. Biện pháp cƣỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù lý luận Nhà nƣớc và pháp luật, là hiện tƣợng gắn liền với Nhà nƣớc. Trong Nhà nƣớc XHCN, thuyết phục là biện pháp chủ yếu đƣợc áp dụng nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Điều này xuất 12 phát từ tính chất Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc đều đặt lợi ích của ngƣời dân lên hàng đầu chính vì vậy luôn nhận đƣợc sự ủng hộ và tuân thủ của nhân dân. Tuy nhiên, nếu chúng ta coi nhẹ sự quan trọng của biện pháp cƣỡng chế sẽ để lại nhiều hệ lụy trong xã hội, bởi lẽ do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn còn một số bộ phận trong xã hội không có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, không chấp hành nghiêm chỉnh chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc. Trong điều kiện nhƣ vậy, áp dụng biện pháp cƣỡng chế là cần thiết, phù hợp với nguyên tắc dân chủ, nhân đạo của Nhà nƣớc ta, bởi lẽ nó đƣợc thực hiện vì mục đích chung của toàn xã hội, trong đó có lợi ích cá nhân. Không áp dụng biện pháp cƣỡng chế, hay coi nhẹ nó, sẽ dẫn đến tình trạng vô pháp, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nƣớc.
Ngƣợc lại, nếu nhƣ quá đề cao và làm dụng đến các biện pháp cƣỡng chế, sẽ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán. Vì vậy, sự kết hợp hài hòa giữa thuyết phục và cƣỡng chế cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội sẽ góp phần to lớn đối với việc thực hiện nhiệm vụ trong quản lý nhà nƣớc. Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động có yếu tố đặc biệt quan trọng của Nhà nƣớc. So với các lĩnh vực hoạt động nhà nƣớc khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cƣỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất đến tự do cá nhân, hạn chế một số quyền con ngƣời, nhân thân đƣợc hiến định.
Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, tiếp tục cƣỡng chế các hành vi phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cƣỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và các quyền hiến định khác của công dân. Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong bộ luật hình sự, do ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, nên trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm đòi hỏi phải có những biện pháp cƣỡng chế thật nghiêm khắc. Do tác động của nguyên tắc tội phạm phải bị trừng trị bằng 13 hình phạt nên thông thƣờng ngƣời thực hiện hành vi phạm tội có xu hƣớng tìm mọi cách lẩn tránh trách nhiệm hình sự của mình.
Do vậy, nhu cầu áp dụng các biện pháp cƣỡng chế từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng đối với ngƣời tham gia tố tụng là tất yếu khách quan, nhằm loại trừ những cản trở hoạt động tố tụng có thể xảy ra, bảo đảm của hoạt động tố tụng hình sự đƣợc diễn ra bình thƣờng, bảo đảm có các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong trƣờng hợp này, biện pháp cƣỡng chế tố tụng hình sự là cần thiết, giúp tạo điều kiện cho việc thực hiện những nhiệm vụ của tố tụng hình sự, buộc bị can, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác phải thực hiện những nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng những biện pháp cƣỡng chế trong tố tụng hình sự cũng có thể trở thành mối đe dọa thực tế đến quyền, tự do hiến định của bị can, bị cáo, ngƣời bị tạm giữ… nếu nhƣ việc áp dụng các biện pháp này không tuân thủ các quy định của luật về điều kiện, trình tự, thủ tục và căn cứ áp dụng. Để giải quyết sự mâu thuẫn giữa việc bảo đảm, tôn trọng các quyền, tự do hiến định và sự cần thiết thực hiện nhiệm vụ phát hiện, khám phá tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội đòi hỏi phải tìm ra hình thức pháp lý hạn chế quyền, tự do hiến định một cách hài hòa, có cân nhắc giữa ngƣời bị hạn chế và lợi ích của Nhà nƣớc, xã hội.
Không thể nhân danh lợi ích đấu tranh chống tội phạm mà xâm phạm đến quyền, lợi ích đƣợc Hiến pháp thừa nhận của cá nhân và ngƣợc lại, không thể hạ thấp yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trƣớc những khả năng bất lợi khi hạn chế quyền, tự do cá nhân. Do vậy, trong bất kì hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào cũng luôn ghi nhận các tình huống trong hoạt động tố tụng hình sự khi các quyền, tự do hiến định của công dân bị hạn chế trƣớc yêu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Căn cứ trên mục đích áp dụng, biện pháp cƣỡng chế trong TTHS có thể đƣợc chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: Gồm các biện pháp nhằm mục đích cƣỡng chế tội phạm, cƣỡng chế ngƣời có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho hoạt động giải quyết vụ 14 án nhƣ bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh. Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ nhƣ khám xét ngƣời, chỗ ở, địa điểm…; xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, nhận dạng… Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm sự thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhƣ áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản … Mặc dù, biện pháp cƣỡng chế trong tố tụng hình sự là một vấn đề truyền thống của khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, trƣớc đây “biện pháp cƣỡng chế” với tƣ cách là một thuật ngữ pháp lý lại chƣa hề đƣợc quy định trong pháp luật tố tụng hình sự thực định. Với sự ra đời của BLTTHS năm 2015, lần đầu tiên, thuật ngữ “biện pháp cƣỡng chế” đƣợc đƣa vào trong luật. Cụ thể: “Điều 126. Các biện pháp cưỡng chế: Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ”.
Nhƣ vậy, BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên nhắc đến thuật ngữ “biện pháp cƣỡng chế”, mặc dù chƣa đƣa ra đƣợc khái niệm về biện pháp cƣỡng chế khác nhƣng đã ghi nhận và liệt kê các biện pháp đƣợc coi là biện pháp cƣỡng chế, gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Căn cứ các quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp cƣỡng chế, có thể đƣa ra khái niệm về các biện pháp cƣỡng chế khác trong BLTTHS năm 2015 nhƣ sau: ”Biện pháp cưỡng chế khác trong tố tụng hình sự là các biện pháp mang tính bắt buộc do người có thẩm quyền áp dụng với bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tố về hình sự và một số người tham gia tố tụng khác trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, nhằm bảo đảm sự thuận lợi, khách quan cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản để bảo đảm thi hành án”. 15 Nhƣ vậy, về bản chất, biện pháp cƣỡng chế khác theo quy định tại BLTTHS năm 2015 thực chất là các biện pháp cƣỡng chế nhằm bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, hoặc có thể gọi chung là các biện pháp cƣỡng chế tố tụng khác (ngoài biện pháp ngăn chặn và biện pháp cƣỡng chế đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ), là nhóm 3 trong cách phân loại các biện pháp cƣỡng chế trong TTHS đã nêu phía trên.