CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG I. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT.1 Khái niệm và lịch sử hình thành thuế GTGT. Thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quán trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu và áp dụng nhằm khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu.
Đây là một luật thuế thu vào mỗi giai đoạn của sản xuất, lưu thông sản phẩm, hàng hoá, đi từ khâu nguyên liệu đến khâu sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là tiêu dùng. Do đó thuế GTGT còn được xem là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế phải nộp ở giai đoạn trước đó.2 Nguồn gốc ra đời của thuế GTGT. Năm 1918, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Siemens, là thành viên gia đình sáng lập tập đoàn Siemens A-G, tập đoàn sản xuất hàng kim khí điện máy lớn nhất nước Đức, đưa ra khái niệm về thuế GTGT và đề xuất với nhà nước Đức thay thế loại thuế thương vụ đa bậc. Năm 1920, thuế doanh thu được áp dụng cho tất cả các khâu trong quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ tại Pháp.
Cách tính thuế này đã tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN Pháp, nhưng đồng thời đã làm phát sinh tình trạng “thuế chồng thuế”. Năm 1938, Pháp cải tiến thuế doanh thu chỉ đánh một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất. Năm 1948, thuế doanh thu tiếp tục được hoàn thiện đánh vào từng công đoạn của quá trình sản xuất. Đến năm 1954, ông Maurice Laure, một viên chức thuế Pháp đã hoàn chỉnh đạo luật thuế GTGT, thuế GTGT chính thức ra đời vào ngày 10/04/1954.
Tại Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế GTGT vào năm 1973 sau khi áp dụng và sửa đổi một số sắc thuế như thuế Khiêm ước, thuế Song Hành. Đến năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, luật thuế này đã được bãi bỏ. Năm 1993, thuế GTGT áp dụng thí điểm cho 19 doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp ngành mía đường và doanh nghiệp quốc doanh) nhưng chương trình thí điểm đã bị thất bại. Trước nhu cầu bức bách của hội nhập nền kinh tế, ngày SVTH: Nguyễn Thị Hoa 2 Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Tôn Thất Cảnh Hòa 01/01/1999 thuế GTGT được áp dụng tại Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu, hoc hỏi kinh nghiệm từ các nước trong khu vực và thế giới.
Do những ưu điểm vốn có của thuế GTGT so với các loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng, thuế GTGT sau đó được áp dụng phổ biến ở các nước liên minh Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Châu Á. Tính đến nay đã có hơn 130 quốc gia áp dụng sắc thuế này.2 Bản chất và cơ chế vận hành thuế GTGT. Thuế GTGT chỉ thu vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ theo phân đoạn trong quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa từ khâu đầu tiên tới người tiêu dùng, tổng số thuế thu được ở phân đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng. Do đó thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắp.
Thuế GTGT mang tính chất động viên và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, sản phẩm quốc dân, nguồn tài chính tiền tệ khác do các tổ chức kinh doanh, tổ chức kinh tế và các thành viên trong xã hội tạo ra nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà Nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của xã hội. Trong những năm qua, thuế mang lại nguồn thu ổn định thường xuyên cho NSNN. Sức động viên của thuế ngày càng cao trên tổng thu của NSNN. Điều này càng chứng tỏ sự quan trọng của thuế trong quản lý vi mô và vĩ mô.
Đối với Nhà nước thuế là đòn bẩy thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo đúng định hướng XHCN.3 Vai trò của thuế GTGT. Thuế GTGT tạo nên môi trường công bằng, qua đó góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ. Thuế doanh thu với sự trùng lắp đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong khi đó, thuế GTGT lại có ưu điểm là chỉ thu vào phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá cho đến tiêu dùng, hoàn toàn không thu thuế trên toàn bộ doanh thu như mô hình thuế doanh thu.
Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm tiêu dùng, không gây khó khăn, trở ngại cho các khâu từ sản xuất lưu thông hàng hoá và tiêu dùng cuối cùng. SVTH: Nguyễn Thị Hoa 3 Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Tôn Thất Cảnh Hòa Thuế GTGT không có hiện tượng thuế trùng thuế, giúp cho giá cả hàng hoá, dịch vụ được xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá. Thuế GTGT động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN, góp phần hình thành khoản thu lớn vào ổn định cho NSNN. Với phạm vi áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng nộp thuế và chịu thuế đều dễ dàng chấp nhận, tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT thực hiện vai trò này một cách rõ rệt trên thực tế.
Thuế GTGT áp dụng thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu và được khấu trừ hoặc hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT của các yếu tố mua vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. Đối với hàng nhập khẩu, thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng chi phí cho các nhà nhập khẩu. Nếu thuế nhập khẩu là hàng rào thuế quan thứ nhất bảo hộ mậu dịch thì thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cũng có thể xem là hàng rào thuế quan thứ hai góp phần bảo hộ mậu dịch dù mức độ bảo hộ có thấp hơn thuế nhập khẩu. Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ.
Kỹ thuật tính thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy người mua và người bán thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ. Góp phần thực hiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với sự vận động và tăng trưởng của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới.4 Ưu, nhược điểm của thuế GTGT. Ưu điểm quan trọng nhất của thuế GTGT là khắc phục được tính trùng lắp của thuế doanh thu bởi lẽ khi tính thuế GTGT ở mỗi giai đoạn của quy trình sản xuất, kinh doanh sẽ được khấu trừ số thuế GTGT ở giai đoạn trước. Trong khi đó thuế doanh thu tính lên cả số thuế doanh thu ở khâu đã nộp.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa 4 Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Tôn Thất Cảnh Hòa Ưu điểm thứ hai của thuế GTGT lá góp phần tăng cường công tác hạch toán, thúc đẩy việc mua bán có hoá đơn, chứng từ. Bởi vì thếu GTGT yêu cầu nếu muốn được khấu trừ thuế của các khâu trước cần thiết phải có đẩy đủ hoá đơn GTGT đầu ra và đầu vào. Ưu điểm thứ ba của thuế GTGT chính là sự đơn giản của nó trong công tác quản lý thu thuế. Người nộp thuế có thể tự mình xác định số thuế phải nộp và trực tiếp nộp cho cơ quan thuế, cơ quan thuế chỉ thực hiện công tác kiểm tra sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
Ưu điểm thứ tư của thuế GTGT là đối tượng và phạm vi chịu thuế GTGT rất rộng. Ưu điểm này cho phép Chính phủ có thể vận dụng để khuyến khích hoạt động xuất khẩu, cũng như áp dụng thuế suất vừa phải, hợp lý hơn là tăng thuế suất, một biện pháp dễ bị phê phán.2 Nhược điểm. Luật thuế GTGT ở Việt Nam giai đoạn đầu áp dụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc cần có một quá trình điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung khá vất vả. Luật thuế GTGT với 2 phương pháp tính thuế tồn tại song song tạo ra mội trường kinh doanh không bình đẳng giữa đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Tồn tại nhiều hóa đơn khác nhau: hóa đơn bán hàng thông thường, hóa đơn GTGT và hóa đơn thu mua hàng hóa trực tiếp của người không có hóa đơn. Gây khó khăn cho việc kiểm tra, xác minh của cơ quan thuế. Thuế suất chỉ có ba nhóm : 0%, 5%, 10% nhưng không có tiêu thức rõ ràng để xác định một mặt hàng hoặc dịch vụ thuộc nhóm nào. Thuế suất áp dụng chưa thực sự phù hợp với nhiều ngành nghề.
Do đó thường điều chỉnh hoặc miễn giảm nên chưa thể hiện tính ổn định. Người tiêu dùng Việt Nam chưa thực sự có lợi ích khi mua hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng khi có hóa đơn nên gây thất thu thuế không nhỏ cho NSNN. Số lượng văn bản có liên quan đến thuế GTGT đã ban hành quá nhiều gây lúng túng cho NNT cũng như các cơ quan chức năng trong quá trình quản lý và điều hành. Từ khi áp dụng luật thuế GTGT thì các hành vi trốn thuế của doanh nghiệp cũng tinh vi hơn nhằm thu tiền của Nhà nước thông qua việc hoàn thuế GTGT.
SVTH: Nguyễn Thị Hoa 5 Chuyên Đề Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Tôn Thất Cảnh Hòa Cơ cấu thu NS giữa trung ương và NS địa phương có sự thay đổi. Trước đây thuế doanh thu được phân chia giữa NS trung ương và NS địa phương. Nhưng hiện nay, nguồn thu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu tập trung toàn bộ vào NS trung ương, thuế GTGT ở khâu còn lại sẽ được phân chia giữa hai đơn vị trên. Thu thuế GTGT từ khâu nhập khẩu có giá trị lớn trong khi số thu thuế GTGT trong nước lại giảm so với thuế doanh thu cho nên phần phân chia ngân sách của địa phương không còn như trước đây.5 Nội dung cơ bản của thuế GTGT tai Việt Nam.
Ở Việt Nam Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua vào ngày 19/05/1997. Có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Tiếp đến là Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế GTGT QH khoá XI thông qua ngày 17/06/2003, có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.