Chương 1: Trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu văn hóa dân tộc Mƣờng, từ đó xác định nội dung và phƣơng hƣớng nghiên cứu của luận án. Chương 2: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Đây là những tiền đề, những tri thức, những công cụ cần thiết để triển khai nghiên cứu thực nghiệm những chƣơng tiếp theo; Chương 3: Mô tả và phân tích sự biến đổi VHVC, trong đó bao gồm các yếu tố nhƣ ẩm thực, trang phục, nhà ở, việc đi lại, tập quán sản xuất trong mối quan hệ tƣơng hỗ với tính cộng đồng của ngƣời Mƣờng tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới. Chương 4: Mô tả và phân tích sự biến đổi văn hóa tinh thần với các yếu tố cơ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản là ngôn ngữ, lễ cƣới, lễ tang và lễ hội trong mối quan hệ tƣơng hỗ với tính cộng đồng của ngƣời Mƣờng tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới.
Chương 5: Mô tả và phân tích sự biến đổi VHXH với các biểu hiện cụ thể là các mối quan hệ gia đình, dòng họ, bản làng và tổ chức đời sống cộng đồng trong mối quan hệ tƣơng hỗ với tính cộng đồng của ngƣời Mƣờng tỉnh Hòa Bình thời Đổi mới. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Đôi điều dẫn nhập Để có thể viết tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án, tác giả nhận thấy cần sơ lƣợc về các khái niệm nhƣ văn hóa, tính cố kết cộng đồng, cũng nhƣ một số vấn đề kéo theo nhƣ sự biến đổi và mối quan hệ tƣơng hỗ giữa hai khái niệm này. Văn hóa: là một khái niệm có nội hàm và ngoại biên vô cùng rộng lớn, nó trùm lên và bao phủ mọi phƣơng diện của đời sống xã hội, nó thể hiện tính vô tận của cuộc sống con ngƣời.
Ở đây, luận án không đi sâu vào các định nghĩa về văn hóa (vì điều này đã đƣợc trình bày ở chƣơng 2 – cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài), mà chỉ tập trung vào diện bao phủ của văn hóa hay nói khác đi là các loại hình văn hóa. Nhƣ chúng ta đã biết, trƣớc đây, trong khoa học cũng nhƣ trong đời sống xã hội, ngƣời ta chỉ phân chia văn hóa thành hai loại hình, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Nhƣng sự phân chia này vẫn còn khá trìu tƣợng, gây cản trở cho quá trình nhận thức cũng nhƣ trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày. Nhằm khắc phục nhƣợc điểm đó (mà cụ thể là khắc phục sự đối lập một cách trìu tƣợng giữa tính vật chất và tính tinh thần của văn hóa), vào những năm 90 của thế kỷ trƣớc, UNESCO đã tổ chức thảo luận và đi đến nhất trí dùng các thuật ngữ mới: văn hóa vật thể (tangible culture) và văn hóa phi vật thể (intangible culture) để chỉ hai lĩnh vực tƣơng đối đối lập của văn hóa.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣng nhận thức là một quá trình, còn con ngƣời cũng luôn không thỏa mãn với những thành tựu đã đạt đƣợc. Về sau này, để tạo thuận lợi cho việc thao tác hóa khái niệm “văn hóa” cho phù hợp với biểu hiện của nó đang diễn ra trong cuộc sống, các nhà nhân học và xã hội học không còn dựa vào phép “nhị phân” truyền thống nữa, họ đã nhìn nhận sự vận hành của văn hóa từ góc nhìn “tam phân”. Khi cho rằng con ngƣời luôn đồng thời sống với ba môi trƣờng: môi trƣờng thiên nhiên, môi trƣờng xã hội và môi trƣờng nội tâm của chính mình. Để thích ứng với môi trƣờng thiên nhiên, con ngƣời đã sáng tạo ra loại hình văn hóa vật chất; cũng tƣơng tự nhƣ vậy, tƣơng ứng với môi trƣờng của các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời là văn hóa xã hội; tƣơng ứng với môi trƣờng nội tâm là văn hóa tinh thần (theo L.Iomin 1996, Mai Văn Hai và cộng sự 2011).
Theo đó, văn hóa vật chất đƣợc quan niệm là các sự việc về ẩm thực, trang phục, cƣ trú, đi lại, tập quán lao động sản xuất; văn hóa xã hội là các khuôn mẫu ứng xử giữa ngƣời với ngƣời, các vai trò và thiết chế xã hội; văn hóa tinh thần là niềm tin, khát vọng, tri thức đƣợc thể hiện ra bằng ngôn ngữ, phong tục tập quán và tôn giáo, tín ngƣỡng,. Có nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng, tuy nhiên, khái niệm cộng đồng với tƣ cách nhƣ là một khái niệm làm việc trong luận án này, đƣợc tác giả thống nhất nhƣ sau: Cộng đồng là một tập hợp dân cƣ sinh sống trên cùng một lãnh thổ, và do vậy, họ thƣờng có ý thức, tình cảm và sự thống nhất trong một địa phƣơng và khả năng tham gia những hành động mang tính tập thể vì lợi ích và trách nhiệm chung (nhƣ lợi ích về kinh tế, lãnh thổ, nghề nghiệp, môi trƣờng xã hội,. Xét theo quy mô, cộng đồng đƣợc hình thành từ nhiều cấp độ, từ vi mô nhƣ gia đình, dòng họ (là cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc thân thuộc), làng xã (theo nguyên tắc láng giềng),… đến cấp độ vĩ mô nhƣ dân tộc (theo nguyên tắc chính trị xã hội), tộc ngƣời (theo tiêu chí cùng chung nguồn gốc),. Đối với cộng đồng ngƣời Mƣờng, cộng đồng đƣợc thể hiện ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô.
Trong mỗi cộng đồng, con ngƣời có mối quan hệ với nhau, có sự liên kết, gắn kết tình cảm, kinh tế với nhau một cách bền chặt tạo thành tính cố kết cộng đồng. Nói khác đi, tính cố kết cộng đồng phản ánh mối quan hệ tốt đẹp giữa con ngƣời với 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con ngƣời trong sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hàng ngày, phản ảnh cách ứng xử lành mạnh, lạc quan, đức tính đoàn kết, tƣơng trợ lẫn nhau giữa những con ngƣời có cùng hoàn cảnh. Cố nhiên là tính cố kết cộng đồng với tƣ cách là một giá trị văn hóa và xã hội thì ở dân tộc nào trên thế giới cũng đều có, song tiêu biểu nhất vẫn là ở phƣơng Đông, nhất là ở các nƣớc Đông Nam Á, do đặc trƣng trồng lúa nƣớc quy định. Để minh chứng cho nhận định vừa nêu, tác giả xin dẫn ra một đoạn văn của Karl Max.
Trong công trình Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapac, Marx đã phân tích về tâm lý ngƣời tiểu nông Pháp (và cũng là tâm lý chung của những ngƣời tiểu nông ở những nƣớc làm ruộng khô khác) nhƣ sau: “Ngƣời tiểu nông là một khối quần chúng rộng lớn, trong đó, tất cả mọi thành viên đều sống trong một hoàn cảnh nhƣ nhau, nhƣng giữa họ lại không có những quan hệ nhiều mặt nó ràng buộc họ lại. Phƣơng thức sản xuất của ngƣời tiểu nông không liên kết họ lại với nhau mà lại làm cho họ tách rời nhau; mỗi gia đình nông dân gần nhƣ tự túc hoàn toàn, họ trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội. Điều đó tạo nên tính rời rạc của khối quần chúng nông dân: bao gồm những gia đình riêng lẻ với mảnh đất con con. Cái khối quần chúng lớn lao này chỉ giản đơn là một đại lƣợng đồng danh hợp lại mà thành.
Đại khái giống nhƣ những củ khoai tây cùng nằm trong một bao tải khoai thì ngƣời ta gọi là một bao tải khoai. Còn giữa các củ khoai nằm cạnh nhau đó thì chẳng liên quan gì với nhau hết. Họ chỉ là giai cấp khi so với giai cấp khác, còn giữa những ngƣời tiểu nông với nhau thì lợi ích giống nhau của họ không tạo nên một mối liên hệ cộng đồng nào cả, một mối liên hệ toàn quốc nào cả”[11]. Không giống với ngƣời tiểu nông Pháp, cũng nhƣ ngƣời tiểu nông của những xứ sở canh tác trên nền ruộng khô, ngƣời tiểu nông ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và ngƣời Mƣờng, lại là ngƣời nông dân trồng lúa nƣớc.
Mà văn minh lúa nƣớc khác rất xa với các nền văn minh du mục và làm nông nghiệp trên ruộng khô. Làm nông nghiệp ruộng nƣớc nghĩa là – nói nhƣ nhà nghiên cứu Phạm Ngọc – trƣớc khi đến ruộng tôi phải qua ruộng anh (hoặc ngƣợc lại), do đó, tôi với anh phải đồng cam cộng khổ, phải đoàn kết với nhau, nếu không thì cả hai sẽ cùng chết. Đó chính là cơ sở khách quan hình thành nên tính cộng đồng của nền văn minh lúa nƣớc, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong đó có Việt Nam và ngƣời Mƣờng ở Việt Nam. Tinh thần cố kết cộng đồng đó không chỉ thể hiện trong đời sống của gia đình, họ hàng, làng bản, mà còn đƣợc mở rộng ra cả vùng miền và đất nƣớc, nhất là những khi gặp thiên tai hay địch họa.
Cộng đồng dân tộc Mƣờng đã trải qua quá trình hình thành và phát triển hàng ngàn năm, họ liên kết với nhau để cùng tồn tại, chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt, hợp tác cùng khai khác nguồn tài nguyên thiên nhiên và cùng nhau đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lƣợc. Chính điều này đã tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ của mạng lƣới các quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản và hình thành bản sắc văn hoá độc đáo mà có thể gọi là di sản văn hoá của dân tộc Mƣờng. Đây chính là điểm độc đáo của văn hóa Mƣờng so với các dân tộc khác. Trong luận án này, tác giả khai thác một số hình thức biểu hiện của tính cố kết cộng đồng nhƣ: (i) Liên kết sản xuất; (ii) Sinh hoạt cộng đồng, tín ngƣỡng – lễ hội; (iii) Gia đình, dòng họ.
Tính cố kết cộng đồng đƣợc biểu hiện phong phú, đa dạng thông qua tất cả thành tố văn hóa nhƣ văn hóa vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội, trong đó, biểu hiện rõ rệt nhất ở khía cạnh quan hệ gia đình, dòng họ và tổ chức đời sống cộng đồng. Vì vậy, tính cố kết cộng đồng sẽ đƣợc tác giả phân tích, lồng ghép trong tất cả các chƣơng của Luận án với tƣ cách nhƣ là một trong những phẩm chất văn hóa nổi bật của ngƣời Mƣờng. Từ đó, tác giả cũng cố gắng đi tìm lời giải liệu rằng có mối quan hệ giữa tính cố kết cộng đồng và sự biến đổi văn hóa không, liệu rằng tính cố kết cộng đồng càng bền chặt thì văn hóa Mƣờng sẽ càng chậm biến đổi không và phải chăng các mối quan hệ cộng đồng lỏng lẻo có thể là nguyên nhân dẫn tới biến đổi nhanh chóng văn hóa Mƣờng ? Trong bối cảnh công nghiệp của đất nƣớc, nhiều chuẩn mực và giá trị mới đang đƣợc hình thành.