CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết, khái quát về văn hóa của cư dân ven biển trên thế giới và Việt Nam Văn hóa biển, văn hóa biển đảo là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới từ khá sớm.
Về mặt lý luận, một vài công trình nghiên cứu về văn hóa biển dưới góc độ là một vùng lịch sử, văn hóa gắn liền với yếu tố địa lý tự nhiên trong đời sống sinh hoạt của con người, điển hình như Hiện tượng văn hóa biển và văn minh biển của E. Trong nghiên cứu của mình, E. Tereshchenko đã phân tích các nguyên tắc, phương pháp luận nghiên cứu văn hóa biển dưới góc độ là một vùng lịch sử - văn hóa. Tác giả đã so sánh văn hóa biển với văn minh biển: “Văn hóa biển là một khái niệm đã được xác định vững chắc, nó giả định có sự hiện diện của một quốc gia có phúc lợi gắn liền với đại dương thế giới; nền kinh tế và chính trị của quốc gia đó phụ thuộc sâu sắc vào hoạt động ở vùng mặt nước đại dương thế giới.
Khác với văn minh biển, văn hóa biển gắn liền với các lối thức thích nghi của cộng đồng đó vì sự sống còn của mình trong môi trường cảnh quan” [31, tr. Có thể thấy trong những nghiên cứu này, đôi khi phạm trù văn hóa biển và đảo được phân định khá rạch ròi với những biểu hiện khác nhau, dù vậy, có lúc lại được đề cập một cách đồng nhất, họ cho rằng văn hóa biển bao gồm cả các giá trị của văn hóa đảo. Cùng với các dạng thức văn hóa vùng miền khác, văn hóa biển đã trở thành đối tượng nghiên cứu phổ biến trong giới khoa học trên thế giới với các phạm trù, khái niệm được đề ra như: Marine and Island Culture, Coastal and Island Culture… Một số quốc gia có thế mạnh về biển như Nhật Bản, Australia, Canada, New Zealand… đã xuất hiện những chuyên ngành nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa biển như Nhân học biển, Văn hóa biển… Trong nghiên cứu về Traditional community-based coastal marine fisheries management in Viet Nam (1998) [137], Kenneth Ruddle đã giới thiệu khá chi tiết về nghề cá và vai trò của các làng chài trong quản lý nghề cá nhỏ ven bờ ở vùng ven biển Việt Nam trước đây. Bên cạnh đó, tác giả đi sâu phân tích cấu trúc, tổ chức xã hội của các vạn chài.
Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến vấn đề hệ thống quản lý dựa trên tiếp cận đồng quản lý nghề cá hiện nay. Ở trong nước, những nghiên cứu sớm nhất đề cập đến văn hóa biển và các cộng đồng dân cư sinh sống ven biển là các công trình thuộc lĩnh vực khảo cổ học. Một số công trình nghiên cứu như Biển với cư dân tiền sử vùng Đông Bắc (1995) và Văn hóa biển tiền sử Việt Nam: Mô hình và giả thiết (1997) của Nguyễn Khắc Sử [74], [75]… Đây là những công trình nghiên cứu không chỉ đơn thuần mang giá trị khảo cổ học mà nội dung còn đề 6 cập đến các vấn đề lý luận văn hóa biển, về sự hình thành, thiên di và tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng cư dân biển thời tiền sử. Với nội dung chủ đạo về khảo học vùng biển, công trình Biển với người Việt cổ (1996) [125] trên cở sở tiếp cận khảo cổ học để nghiên cứu về biển, và đã nêu được vai trò và tầm quan trọng của sự hình thành các cộng đồng cư dân ven biển.
Đồng thời, tác giả cũng đề xuất cần có chiến lược biển ở Việt Nam. Tập trung vào chủ đề ngư dân, trong Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002) [86], tác giả Nguyễn Duy Thiệu đã đưa ra các nội dung khái quát nhất về ngư dân Việt Nam như sự hình thành các cộng đồng ngư dân, đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần,… Về địa bàn nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu khá sâu về đời sống ngư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ, những nơi điển hình cho nghiên cứu về ngư dân, nghề cá. Năm 2010, trong bài viết “Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam” [1], tác giả Trần Thị Mai An đã nêu lên các vấn đề như khái niệm văn hóa, nguồn gốc văn hóa biển, phân tích các yếu tố biển trong tri thức dân gian của người Việt… Tác giả khẳng định văn hóa biển dù không phải là yếu tố hàng đầu định hình nên văn hóa Việt Nam bản địa, nhưng có vai trò và vị trí quan trọng trong đời sống cư dân vùng duyên hải và không thể không được nhắc đến trong các yếu tố cấu thành văn hóa Việt. Tương đồng với chủ đề về khái niệm văn hóa biể, tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Văn hóa biển được hiểu như là hệ thống các tri thức của con người về môi trường biển, các giá trị và biểu trưng rút ra từ những hoạt động sống trong môi trường ấy.
Cùng với nó là những cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con người tương thích với môi trường biển” [93, tr. Các chủ đề về văn hóa biển, truyền thống biển, tư duy biển được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, công bố những luận điểm với những cách nhìn đa dạng. Trong Người Việt với biển (2011), Nguyễn Văn Kim và các tác giả cho rằng: “cơ tầng văn hóa biển được xây đắp từ những huyền thoại thời lập quốc, những tín hiệu tâm linh cho tới những câu chuyện dân gian đời thường được tích lũy qua nhiều thời đại, tạo nên ý thức về biển ngày một rộng lớn, sâu sắc” [47, tr. Năm 2011, tác giả Nguyễn Hữu Thông với bài viết “Biển trong lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn của Charles Wheeler (dẫn liệu từ vùng Thuận Quảng)” đã cho rằng sự vắng mặt của biển trong lịch sử Việt Nam là do bị những định kiến khi đánh giá trên mặt hiện tượng các vấn đề liên quan đến địa hình, lịch sử, kinh tế cũng như những hoạt động trong quá trình ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc” [100, tr.
Tại Hội thảo khoa học toàn quốc Văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa (2011), vấn đề “truyền thống biển” được đặt ra và được nhiều tác giả quan tâm, thảo luận. Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng cần phân biệt “văn hóa biển” với “văn hóa đất liền”, “văn hóa biển cận duyên”, “văn hóa đồng bằng”. Bên cạnh đó, tác giả cho rằng: “Văn hóa biển là hệ thống các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển làm nguồn sống chính” [85]. Cùng chung mối quan tâm đó, tác giả Ngô Đức Thịnh trong bài viết “Văn hóa biển cận duyên (Từ tiếp cận Nhân học văn hóa)” (2014) cho rằng Việt Nam chỉ có truyền thống “văn hóa biển cận duyên” chứ không có “văn hóa biển đại dương” và nó quán xuyến truyền thống biển Việt Nam từ xưa tới nay, cho nên mặc dù sống cạnh biển 7 và nương nhờ vào biển rất nhiều, nhưng người dân ven biển từ miền Trung trở ra vẫn không thoát khỏi tâm lý “sợ biển” [94].
Nhận diện các khía cạnh trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của con người vùng biển cũng được đề cập dưới nhiều góc nhìn, quan điểm qua các công trình nghiên cứu, bài viết như: Biển trong văn hóa người Việt (2009) [49] của Nguyễn Thị Hải Lê; Một góc nhìn về văn hóa biển (2014) [58] của Nguyễn Thanh Lợi; “Văn hóa biển đảo vùng Đông Bắc - Bảo vệ và phát huy giá trị” (2015) [53] của Từ Thị Loan; “Bước đầu tìm hiểu giá trị văn hóa biển đảo Nam Trung bộ” (2015) [78] của Bùi Quang Thanh; Đời sống xã hội - kinh tế, văn hóa của cư dân vùng biển Nam Bộ (2016) [106] của Phan Thị Yến Tuyết; Đời sống xã hội và văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển và hải đảo từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa, góc nhìn dân tộc học (2018) [29] của Bùi Xuân Đính… Nhìn chung, những công trình này cũng mới chỉ nêu khái quát vai trò của văn hóa biển trong tổng thể văn hóa Việt Nam, chưa có nội dung nổi bật về lý luận trong nghiên cứu văn hóa biển. Công trình nghiên cứu về văn hóa của cư dân ven biển ở khu vực Trung bộ - Các nghiên cứu tổng quan, lý thuyết về văn hóa dân gian Vùng ven biển Trung bộ được xem là “vùng văn hóa” có phạm vi trải dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, trong đó phân chia thành Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Các công trình nghiên cứu về văn hóa biển, cư dân ven biển vùng Trung bộ dưới góc độ văn hóa dân gian khá nhiều, dù vậy ít có các công trình mang tính hệ thống. Phổ biến nhất là các khảo cứu về đời sống văn hóa của các cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo, đầm phá.
Năm 1983, bài viết “Đôi nét về làng biển ở nước ta” [81] của Lê Ngọc Thắng và Đào Bá Dậu đã bước đầu khái quát những nét tiêu biểu nhất của văn hóa dân gian làng ven biển trên những khía cạnh kinh tế, tập quán, tín ngưỡng… đây được xem là nguồn tư liệu nghiên cứu có giá trị về văn hóa làng ven biển. Đề cập đến yếu tố văn hóa dân gian của cư dân ven biển, đáng chú ý hơn cả là công trình Văn hóa dân gian làng ven biển (Viện nghiên cứu văn hóa dân gian) (2000) [126]. Nghiên cứu của các tác giả đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến văn hóa biển, cư dân ven biển như lịch sử hình thành làng xã ven biển, trong đó có đề cập đến các làng biển ở vùng Trung bộ thông qua việc khảo cứu những thành tố văn hóa như tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, các di tích văn hóa… kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tổng thể, chiến lược về đặc điểm văn hóa, con người ở mỗi vùng biển trong bối cảnh hiện nay. Năm 2002, công trình Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam [86] của tác giả Nguyễn Duy Thiệu thông qua nghiên cứu, khảo sát ba cộng đồng cư dân ven biển ở Cửa Sót (Hà Tĩnh), đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) và cộng đồng ngư dân ở Nam Trung Bộ đã nêu lên những vấn đề mang tính khái quát về ngư dân Việt Nam, từ quá trình hình thành, đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần… và cả những sự biến đổi các khía cạnh đó trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.