Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam, nông thôn và nông nghiệp truyền thống đang trải qua những bước chuyển dịch cơ cấu sâu sắc. Nông nghiệp trồng lúa nước và hoa màu vốn là hoạt động kinh tế chủ đạo gắn bó lâu đời với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ, tuy nhiên phương thức sản xuất thuần nông tự cung tự cấp bộc lộ nhiều hạn chế về năng suất và mức sống. Làng Báo Văn (xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) là một làng quê truyền thống, trước năm 2004 đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào cây lúa nên gặp nhiều khó khăn. Bước vào giai đoạn 2004 – 2014, trước tác động của các chính sách dồn điền đổi thửa, phát triển kinh tế trang trại và sự nhạy bén của người dân, hoạt động sinh kế tại địa phương đã có những biến đổi rõ nét và đa dạng hóa phương thức mưu sinh.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Tìm hiểu và phân tích các điều kiện, nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi các hoạt động sinh kế của người dân làng Báo Văn giai đoạn 2004 – 2014.
- Đánh giá, rút ra các nhận xét về mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế của các hoạt động sinh kế đối với đời sống kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của người dân địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có căn cứ thực tiễn nhằm ổn định và phát triển các mô hình sinh kế bền vững, nâng cao mức sống cho nhân dân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi các hoạt động sinh kế của người dân làng Báo Văn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn làng Báo Văn (bao gồm thôn Báo Văn 1 và thôn Báo Văn 2), xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2004 đến năm 2014 (có đối chiếu với các mốc lịch sử trước năm 2004).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận sử dụng khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận chuyên ngành Việt Nam học kết hợp liên ngành khoa học xã hội:
-
Khung lý thuyết: Tác giả vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999/2001). Khung phân tích này bao gồm 5 thành tố tương tác:
- Hoàn cảnh dễ bị tổn thương (Vulnerability context): Các cú sốc, xu hướng thị trường và tính thời vụ của tự nhiên.
- Năm nguồn vốn sinh kế (Livelihood assets): Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.
- Cơ cấu và quá trình thực hiện (Transforming structures and processes): Thể chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương.
- Chiến lược sinh kế (Livelihood strategies): Các quyết định lựa chọn đa sinh kế của hộ gia đình.
- Kết quả sinh kế (Livelihood outcomes): Mức thu nhập, an toàn lương thực, tính bền vững của tài nguyên và chất lượng cuộc sống.
Bên cạnh đó, đề tài tham khảo các công trình lý luận về sinh kế của R. Chambers, G. Conway, F. Ellis và các nghiên cứu thực nghiệm về chuyển đổi sinh kế nông thôn, ven đô của PGS.TS. Nguyễn Văn Sửu (2014), Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh (2009).
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức của các lĩnh vực sử học, nhân học, xã hội học và kinh tế học nông thôn.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác các văn bản chính sách (Nghị quyết 06-NQ/TW năm 1998 của Bộ Chính trị, Nghị định 64/CP năm 1993, Nghị quyết 02/NQ-HU của Huyện ủy Yên Lạc, Kế hoạch 243/KH-UB của UBND huyện Yên Lạc), các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội và số liệu thống kê của UBND xã Đồng Văn qua các thời kỳ.
- Phương pháp phỏng vấn cá nhân sâu: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ chính quyền xã Đồng Văn, trưởng thôn và các hộ dân đại diện cho các nhóm sinh kế (chủ trang trại, hộ thu mua phế liệu, hộ làm chài lưới, buôn bán dịch vụ).
- Phương pháp mô tả và so sánh: Phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả nhằm làm rõ sự dịch chuyển cơ cấu lao động, diện tích đất đai và thu nhập giữa các mốc thời gian 2004 và 2014.
-
Nguồn dữ liệu: Báo cáo lưu trữ của UBND xã Đồng Văn, Ban Thống kê xã Đồng Văn, tài liệu khảo sát địa chính huyện Yên Lạc và số liệu điền dã thực địa trực tiếp của tác giả tại làng Báo Văn năm 2014 - 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về làng Báo Văn, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 1 phác thảo bức tranh toàn diện về tự nhiên, lịch sử, dân cư, văn hóa và kinh tế làng Báo Văn trước mốc biến đổi năm 2004:
- Điều kiện tự nhiên: Xã Đồng Văn nằm ở phía Tây Bắc huyện Yên Lạc, cách thị trấn huyện 7 km với tổng diện tích tự nhiên năm 2010 là 702,56 ha. Làng Báo Văn nằm ở phía Tây của xã, chia tách thành hai thôn Báo Văn 1 và Báo Văn 2 bằng một con kênh đào. Địa hình tương đối bằng phẳng xen kẽ vùng trũng; khí hậu nhiệt đới gió mùa 4 mùa phân hóa rõ rệt; nguồn nước dồi dào từ sông Hồng, hệ thống kênh mương và mạch nước ngầm tầng nông (trên 20 m, lưu lượng khai thác 40 - 60 m³/ngày đêm); đất đai chủ yếu là đất phù sa bồi đắp thích hợp thâm canh.
- Lịch sử hình thành và hành chính: Vùng đất mang dấu ấn văn hóa Đông Đậu cách ngày nay 3.500 năm. Trải qua các thời kỳ lịch sử, địa giới có nhiều thay đổi: thời Hán thuộc huyện Phong Khê; thời Đinh (thế kỷ X) thuộc huyện Yên Lạc; thế kỷ XIX thuộc tổng Hội Hạ; năm 1899 thuộc tổng Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên. Sau năm 1945, làng trải qua các lần sáp nhập thành xã Cộng Hòa (1945), đổi tên thành xã Đoàn Kết (1950), thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (1950), tỉnh Vĩnh Phú (1968) rồi đổi tên thành xã Đồng Văn. Năm 1977 thuộc huyện Vĩnh Lạc; năm 1995 tái lập huyện Yên Lạc và năm 1996 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
- Dân cư và tổ chức xã hội: Làng có 4 dòng họ lớn chiếm khoảng 90% dân số gồm họ Tô, họ Lê, họ Hoàng, họ Nguyễn (trong đó họ Tô có mặt sớm nhất và đông nhất, ngành họ Tô Trọng là trưởng). Năm 2014, làng có 430 hộ với 1.872 nhân khẩu (nữ chiếm 48,6%). Làng vận hành qua bộ máy trưởng thôn, các đoàn thể (Hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Người cao tuổi) và các mối quan hệ dòng họ, láng giềng bền chặt.
- Văn hóa - tín ngưỡng: Có chợ làng họp cả ngày; hệ thống trường học Mầm non, Tiểu học, THCS mang tên Trạng nguyên Phạm Công Bình; 1 trạm y tế, nhà văn hóa xã và nhà văn hóa thôn. Đình làng thờ Khoan Khoáng Đại vương, chùa Đại Tự thờ Phật; người dân duy trì phong tục làm lễ "sửa quý" ở tuổi 50.
- Kinh tế trước năm 2004: Trải qua các giai đoạn Hợp tác xã nông nghiệp (thành lập năm 1959, áp dụng chế độ công điểm và khoán nộp 30 kg thịt lợn/năm), khoán ruộng năm 1986 và chia ruộng ổn định lâu dài năm 1993 theo Nghị định 64/CP (bình quân 1 sào 2 thước tương đương 408 m²/khẩu). Do đất chia thành 3 hạng (loại 1: 3 vụ; loại 2: chuyên màu; loại 3: chiêm trũng/cao hạn) nên đất đai bị chia cắt manh mún. Năm 2004, làng thuần nông với hơn 80% dân số làm nông nghiệp; năng suất lúa đạt 58 tạ/ha, bình quân lương thực đạt 492 kg/người/năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2000 chỉ đạt 1,6 triệu đồng/người/năm.
| Loại hình sử dụng đất năm 2004 |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ (%) |
| Đất trồng lúa |
53,330 |
79,55 |
| Đất trồng rau màu |
7,250 |
10,83 |
| Đất nuôi trồng thủy sản |
6,450 |
9,62 |
| Tổng diện tích đất nông nghiệp |
67,039 |
100,00 |
Chương 2: Sự biến đổi sinh kế làng Báo Văn giai đoạn 2004 – 2014
Chương 2 tập trung phân tích các nguyên nhân, nguồn lực và thực trạng chuyển dịch phương thức mưu sinh của người dân:
- Cơ chế, chính sách thúc đẩy: Căn cứ Nghị quyết 06-NQ/TW (1998) của Bộ Chính trị về kinh tế trang trại; Nghị quyết số 02/NQ-HU (2001) của Huyện ủy Yên Lạc và Kế hoạch số 243/KH-UB của UBND huyện Yên Lạc về chuyển đổi ruộng đất, ngày 15/7/2004 UBND xã Đồng Văn thành lập Tiểu ban chỉ đạo chuyển đổi ruộng đất và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp làng Báo Văn. Địa phương quy hoạch lại 3 vùng sản xuất:
- Vùng đất tốt tiếp tục thâm canh lúa.
- Vùng đất vàn cao thiếu nước chuyển sang trồng chuyên màu giá trị cao (đậu tương, lạc, dưa, ớt, rau).
- Vùng đất trũng quy hoạch tập trung trên 5 ha chuyển sang đào ao nuôi cá kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây ăn quả theo mô hình khép kín.
Thực hiện dồn điền đổi thửa nhằm giảm số thửa (mỗi hộ còn không quá 1 - 2 thửa diện tích trên 500 m²), mở đường giao thông nội đồng rộng 6 - 8 m và kiên cố hóa kênh mương.
- Các nguồn vốn sinh kế tại địa phương:
- Vốn con người: Năm 2014, làng có 1.095 lao động (chiếm 58,5% dân số), trong đó 1.018 người có việc làm thường xuyên (92,75%). Đã có 636 lao động qua đào tạo (đạt 57,75%). Cơ cấu lao động dịch chuyển mạnh từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.
- Vốn xã hội: Tinh thần tương trợ dòng họ, các hội nghề nghiệp tự nguyện (hội làm ao, hội làm nhựa, hội thu mua sắt phế liệu, tổ liên gia) và phong tục "cấy đổi công".
- Vốn tự nhiên và vật chất: 100% đường làng ngõ xóm được bê tông hóa; 100% hộ dân có nhà mái ngói kiên cố; hệ thống lưới điện quốc gia và nước sạch sinh hoạt được bảo đảm.
- Vốn tài chính: Tích lũy cá nhân kết hợp vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, ngân hàng thương mại và quỹ quay vòng nội bộ của các nhóm hội.
- Thực trạng các hoạt động sinh kế giai đoạn 2004 – 2014:
- Sản xuất nông nghiệp và kinh tế trang trại: Giảm diện tích lúa, mở rộng diện tích thủy sản lên 12,517 ha (chiếm 18,7% đất nông nghiệp) với 66 hộ nuôi thả cá; hình thành 5 mô hình kinh tế trang trại quy mô lớn được công nhận chính thức.
- Nghề thu mua và sơ chế phế liệu: Phát triển mạnh mẽ với 22 hộ gia đình kinh doanh quy mô lớn, trong đó 14 hộ trang bị xe ô tô tải chuyên dụng để vận chuyển phế liệu liên tỉnh.
- Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ khác: Nghề đan chài lưới thủ công (giá bán 800.000 – 1.000.000 đồng/chiếc, nguyên liệu lấy từ chợ Nghệ, chợ Lầm); nghề xay xát phục vụ chăn nuôi; 8 cửa hàng tạp hóa kết hợp sửa chữa; dịch vụ giúp việc gia đình tại Hà Nội và lao động xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia.
| Chỉ tiêu lao động và việc làm năm 2014 |
Báo Văn 1 |
Báo Văn 2 |
Toàn làng Báo Văn |
| Tổng dân số (người) |
723 |
1.149 |
1.872 |
| Dân số trong độ tuổi lao động (người) |
380 |
715 |
1.095 |
| Số lao động có việc làm thường xuyên (người) |
350 |
668 |
1.018 |
| Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên (%) |
91,10 |
94,40 |
92,75 |
| Lao động Nông - Lâm - Thủy sản (người) |
101 |
68 |
169 (15,43%) |
| Lao động Phi nông nghiệp: CN, Thương mại, Dịch vụ (người) |
249 |
600 |
849 (83,74%) |
| Lao động được đào tạo nghề các hệ (người) |
215 |
421 |
636 (57,75%) |
Chương 3: Chuyển đổi sinh kế ở làng Báo Văn: thành tựu, những tồn tại và đề xuất một số giải pháp
Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được, chỉ ra những mặt trái nảy sinh và đưa ra hệ thống khuyến nghị:
- Hiệu quả kinh tế: Thu nhập bình quân đầu người của làng đạt 24,98 triệu đồng/người/năm vào tháng 9/2014 (tăng hơn 15 lần so với mức 1,6 triệu đồng năm 2000). Hộ làm trang trại đạt lợi nhuận ròng 80 - 90 triệu đồng/năm; hộ kinh doanh phế liệu đạt bình quân 120 triệu đồng/năm; người làm thuê nghề phế liệu đạt mức lương 2 - 3 triệu đồng/tháng.
- Tác động xã hội và môi trường: Giải quyết việc làm thường xuyên cho 92,75% lao động; đời sống văn hóa, cơ sở hạ tầng được nâng cấp; hoạt động thu gom phế liệu góp phần tái chế chất thải rắn, làm sạch nguồn phế thải công nghiệp và dân sinh.
- Tồn tại và hạn chế:
- Xã hội: Không gian làng quê truyền thống bị phá vỡ; xuất hiện lối sống lai căng; phát sinh tệ nạn xã hội (năm 2014 toàn xã có 19 người nghiện ma túy thì làng Báo Văn chiếm 5 người; bắt giữ 3 vụ cờ bạc với 29 người tham gia); hiện tượng sao nhãng quản lý con cái dẫn đến bạo lực học đường và nghiện trò chơi điện tử.
- Mô hình trang trại: Quy mô còn nhỏ, năng lực quản lý dựa vào kinh nghiệm, thiếu vốn kỹ thuật cao, giá cả thị trường bấp bênh và gây ô nhiễm mùi từ chất thải chăn nuôi.
- Nghề thu mua phế liệu: Công nghệ phân loại, tái chế thủ công thô sơ; ô nhiễm không khí nặng do đốt dây điện lấy đồng/nhôm, đốt cao su, đệm mút sinh ra khói bụi và khí độc ($CO_2$, $SO_2$, dioxin); xả tạp chất không tái chế xuống sông và bãi rác; mất an toàn lao động (xảy ra tai nạn kẹt tay vào máy xay nhựa, máy nấu nilon, nổ bình gas và bom mìn phế liệu).
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Giải pháp giáo dục - đào tạo: Đặt giáo dục làm nền tảng, nâng cao dân trí và ý thức lao động; tăng cường đào tạo nghề gắn với nhu cầu kỹ thuật để nâng cao giá trị nguồn vốn con người.
- Giải pháp vốn và tín dụng: Tạo điều kiện cho các hộ trang trại, hộ phế liệu tiếp cận các gói vay ưu đãi lãi suất thấp từ ngân hàng; củng cố các quỹ tương trợ không lãi suất trong các hội nghề nghiệp.
- Giải pháp môi trường: Xử phạt nghiêm các hành vi đốt và đổ rác thải độc hại bừa bãi; ứng dụng công nghệ xử lý rác thải; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đồ án quy hoạch Cụm công nghiệp làng nghề xã Đồng Văn tỷ lệ 1/500 (phê duyệt năm 2010) để di dời các cơ sở tái chế phế liệu ra khỏi khu dân cư; hoàn thiện quy hoạch dồn ghép ruộng đất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận ghi nhận các kết quả thực tế qua hệ thống số liệu định lượng cụ thể:
| Tiêu chí so sánh |
Năm 2000 / 2004 |
Năm 2014 |
| Quy mô dân số làng Báo Văn |
1.645 người |
1.872 người (430 hộ) |
| Thu nhập bình quân đầu người |
1,60 triệu đồng/người/năm (năm 2000) |
24,98 triệu đồng/người/năm |
| Tỷ lệ lao động nông nghiệp |
> 80,00% |
15,43% (169 người) |
| Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp |
< 20,00% |
83,74% (917 người) |
| Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên |
Chưa thống kê đầy đủ |
92,75% (1.018 lao động) |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo |
Thấp, chủ yếu lao động phổ thông |
57,75% (636 người) |
| Diện tích đất nuôi trồng thủy sản |
6,450 ha (chiếm 9,62% đất nông nghiệp) |
12,517 ha (chiếm 18,70% đất nông nghiệp) |
| Số hộ phát triển kinh tế trang trại lớn |
0 hộ |
5 trang trại lớn (thu nhập 80 - 90 triệu/năm) |
| Hộ kinh doanh phế liệu quy mô lớn |
Nhỏ lẻ, đi làm ăn xa |
22 hộ (14 hộ có ô tô tải, thu nhập 120 triệu/năm) |
Đóng góp của nghiên cứu:
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, có hệ thống về quá trình chuyển dịch sinh kế tại một làng thuần nông đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp 2004 – 2014.
- Vận dụng thành công mô hình Khung sinh kế bền vững của DFID để giải thích mối quan hệ tương tác biện chứng giữa chủ trương thể chế (dồn điền đổi thửa, quy hoạch vùng) với 5 nguồn vốn sinh kế nội tại ở cấp độ hộ gia đình nông thôn.
- Nhận diện thẳng thắn và khách quan tính hai mặt của việc đa dạng hóa sinh kế nông thôn: tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đi liền với nguy cơ suy thoái môi trường làng nghề và xáo trộn các chuẩn mực xã hội truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát giới hạn trong một địa bàn đơn lẻ (làng Báo Văn, xã Đồng Văn); nguồn số liệu kinh tế và việc làm chủ yếu dựa vào báo cáo thống kê hành chính địa phương kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích tương quan định lượng mẫu lớn; chưa có điều kiện đo đạc chỉ số kỹ thuật môi trường thực tế (như nồng độ khí thải dioxin, $SO_2$ hay chỉ số ô nhiễm nguồn nước ngầm).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái sau khi di dời các cơ sở phế liệu vào Cụm công nghiệp làng nghề xã Đồng Văn; khảo sát mức độ bền vững của mô hình kinh tế trang trại trong điều kiện biến đổi khí hậu và biến động thị trường giai đoạn sau năm 2015; so sánh đối chứng mô hình biến đổi sinh kế của làng Báo Văn với các làng nghề lân cận như Tề Lỗ (Yên Lạc) hoặc Chấn Hưng (Vĩnh Tường).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Việt Nam học, Xã hội học nông thôn, Nhân học kinh tế, Địa lý kinh tế - xã hội và Quản lý phát triển nông thôn.
- Cán bộ hoạch định chính sách nông nghiệp, cán bộ quản lý cấp xã/huyện phụ trách chương trình Dồn điền đổi thửa và Xây dựng Nông thôn mới.
- Nội dung giá trị:
- Cung cấp phương pháp luận và quy trình điền dã thực tế khi khảo sát sinh kế nông thôn cấp làng/thôn.
- Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn về bài học tổ chức dồn ghép ruộng đất, quy hoạch vùng sản xuất trang trại khép kín trên đất trũng ngập úng.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - xã hội học cụ thể về tiến trình biến đổi địa giới hành chính, văn hóa làng xã và các dòng họ tại vùng đất Yên Lạc, Vĩnh Phúc.
Câu hỏi thường gặp
Khung lý thuyết phân tích sinh kế nào được tác giả ứng dụng trong khóa luận?
Tác giả sử dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) xây dựng năm 1999/2001, phân tích mối quan hệ giữa Hoàn cảnh dễ bị tổn thương, 5 nguồn vốn sinh kế (con người, xã hội, tự nhiên, vật chất, tài chính), Cơ cấu - thể chế chính sách, Chiến lược đa sinh kế và Kết quả sinh kế.
Cơ cấu lao động của làng Báo Văn đã thay đổi như thế nào sau 10 năm (2004 – 2014)?
Năm 2004, trên 80% dân số là lao động thuần nông. Đến năm 2014, trong tổng số 1.095 người trong độ tuổi lao động, số lao động làm nông - lâm - thủy sản giảm xuống chỉ còn 169 người (15,43%), trong khi lao động phi nông nghiệp (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ) tăng lên 917 người (chiếm 83,74%), với tỷ lệ có việc làm thường xuyên đạt 92,75%.
Chính quyền xã Đồng Văn đã quy hoạch đồng ruộng làng Báo Văn thành các vùng sản xuất nào theo Kế hoạch năm 2004?
Tiểu ban chỉ đạo xã đã quy hoạch làng thành 3 vùng: vùng đất tốt thuận lợi tưới tiêu tiếp tục thâm canh lúa; vùng đất vàn cao khó lấy nước chuyển sang chuyên canh rau màu giá trị cao (đậu tương, lạc, dưa, ớt); vùng đất trũng ngập úng quy hoạch tập trung trên 5 ha chuyển sang đào ao nuôi thủy sản kết hợp kinh tế trang trại khép kín.
Hoạt động thu mua phế liệu mang lại hiệu quả kinh tế và gây ra những vấn đề môi trường, an toàn lao động nào?
Nghề phế liệu mang lại thu nhập bình quân khoảng 120 triệu đồng/hộ/năm cho 22 hộ kinh doanh lớn (14 hộ sở hữu ô tô tải riêng) và tạo việc làm cho lao động làm thuê với mức lương 2 - 3 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, nghề này gây ô nhiễm không khí nặng nề do đốt thủ công dây điện, vỏ nhựa, đệm mút phát sinh khí độc ($CO_2$, $SO_2$, dioxin); xả chất thải không thể tái chế bừa bãi và gây ra các tai nạn lao động nghiêm trọng như kẹt tay vào máy xay nhựa, máy nấu nilon, nổ bom mìn và bình gas phế liệu.
Mức thu nhập bình quân đầu người của làng Báo Văn năm 2014 đạt bao nhiêu so với trước đây?
Theo số liệu thống kê tháng 9/2014 của UBND xã Đồng Văn, thu nhập bình quân đầu người của thôn Báo Văn đạt 24,98 triệu đồng/người/năm, tăng gấp hơn 15 lần so với mức thu nhập bình quân 1,6 triệu đồng/người/năm vào năm 2000.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tô Thị Dung đã phản ánh một cách chân thực và có hệ thống quá trình chuyển đổi từ mô hình thuần nông tự cung tự cấp sang cơ cấu đa sinh kế tại làng Báo Văn (xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) giai đoạn 2004 – 2014. Dưới tác động đồng bộ của các chính sách dồn điền đổi thửa, phát triển kinh tế trang trại cùng sự năng động của các nguồn vốn sinh kế địa phương, mức sống và thu nhập của người dân đã có sự tăng trưởng vượt bậc với tỷ lệ việc làm đạt trên 92%. Dù vậy, tiến trình chuyển dịch này cũng bộc lộ những thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do nghề phế liệu và sự xáo trộn các giá trị văn hóa - xã hội truyền thống, đòi hỏi các giải pháp can thiệp bền vững về đào tạo nghề, tín dụng và quy hoạch cụm công nghiệp tập trung. Công trình là tài liệu nghiên cứu thực địa có giá trị học thuật và thực tiễn đối với lĩnh vực phát triển nông thôn và biến đổi sinh kế tại đồng bằng Bắc Bộ.