chương 1 Sinh kế là việc lựa chọn phương thức sống phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của địa phương. Việc lựa chọn sinh kế có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tỉnh thần của người dân. Là một làng có truyền thống lâu đời vùng đồng bằng Bắc Bộ, cùng với những điều kiện vị trí địa lý và tự nhiên thuận lợi, người dân làng Báo Văn sớm đã tìm cho mình một hoạt động sinh kế tương đối ổn định đó là nông nghiệp trồng lúa và hoa màu. Đây được coi là nghề căn bản của người dân nơi đây, là điều kiện tiền đề để người dân từng bước chuyên đổi hoạt động sinh kế của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Tuy nhiên, có thể thấy, việc sản xuất của người dân làng Báo Văn cho đến năm 2004 vẫn còn ở quy mô nhỏ, đơn vị sản xuất chính là hộ gia đình mang tính chất tự cung tự cấp. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào cây lúa với phương thức canh tác truyền thống nên năng suất không cao. Sản phẩm làm ra giai đoạn này thường chi đủ đáp ứng nhu cầu Tương thực của gia đình. Theo báo cáo số liệu tổng kết năm 2000, thu nhập bình quân đầu người là 1,6 triệu đồng.
Nhìn chung mức sông của người dân van còn ở mức thap. —--- TT i EE Ee CHƯƠNG 2: SỰ BIEN DOI SINH KE LANG BAO VĂN GIAI DOAN 2004 — 2014 2. Khái niệm sinh kế Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R. Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett, Morrison, Dorward,.
Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Theo quan điểm của lý thuyết sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế - Vương quốc Anh (DFID) năm 1999: “Sinh kế được xem như là tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ ”. Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Hay nói cách khác, sinh kế là việc lựa chọn phương thức sống phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của địa phương.
e Khung sinh kế bền vững Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan tới nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể. DFID đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau: GVHD: TS. Đặng Thị Vân Chỉ Page 25 Cơ cấu và tiến trình thực hiện | Kết quả sinh kế -Tăng thu nhập Tình huống Cơ cau Quá trình -Tăng sự ổn định dé bị tốn hình thành thương -Các cấp -Giảm rủi ro Ảnh chính quyền Luật lệ, chính z Am 2 z x [a -Các cú sốc hưởng l sách, văn hóa, -Nâng cao an toàn và khả -Đơn vị tư thé chê, tổ - uk A.
lương thực -Các khuynh năng tiêp nhân chức,. hướng _ cận - Sử dụng bền vững hơn các -Tinh thời vụ nguồn lực tự nhiên (Nguồn: DFDI: 2001) Sơ đồ 2.2 - Khung sinh kế bền vững Dựa vào sơ đồ trên, có thể thấy khung sinh kế bền vững gồm có các thành phần sau: - Hoàn cảnh dé bị tốn thương: La môi trường sống bên ngoài của con người. Sinh kế và các tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng bởi những xu hướng, những cú sốc và tính thời vụ. Ví du như các cú sốc về sức khỏe con người, thiên tai, chiến tranh hay biến động về giá cả sản xuất,.
Những tài sản sinh kế: Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó con người lựa chọn các hoạt động sinh kế khác nhau đó là nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn tài chính. Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế: Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của họ. Các hộ gia đình thường không chỉ có một hoạt động sinh kế mà theo đuổi chiến lược đa sinh kế. Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môi trường, GVHD: TS.
Đặng Thị Vân Chi Page 26 : chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chiến lược sinh kế của người dan bao gồm những quyết định và lựa chọn của họ về việc đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau để đạt được những mục tiêu do mình đặt ra. Kết quả sinh kế là cái mà người dân đạt được như cuộc sống của họ ra sao? Thu nhập của người dân như thế nào?. Đây được xem là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững.
| Như vậy dựa trên khung lý thuyết về biến đổi sinh kế được trình bày ở trên, khóa luận của tôi đi vào khảo sát, tìm hiểu quá trình biến đổi sinh kế của người dân làng Báo Văn, những điều kiện và nguyên nhân nào đã tác động đến quyết định của người dân trong việc lựa chọn chiến lược sinh kế, quá trình biến đổi sinh kế và kết quả của những quyết định này đên đời sống của người dân. Sự biến đổi sinh kế của người dân từ 2004 — 2014 2. Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến sự biến doi 2. Điều kiện về cơ chế, chính sách Báo Văn là một địa phương có hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp tuy nhiên mức sống của người dân địa phương còn hạn chế nên trong những năm qua đã nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương.
Sự khuyến nông này trước hết được thê hiện qua các chủ trương, chính sách của Nhà nước. e_ Đường lỗi của Dang trong việc phát triển kinh té và xây dựng nông thôn mới Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay, nhờ đường lối đổi mới của Đảng và chính sách khuyến khích của Nhà nước, hộ nông dân được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra động lực mới khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn và kinh nghiệm sản xuất, quản lý của rất nhiều hộ nông dân. Nhờ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta đã có một bước chuyền biến tương đối toàn diện, GVHD: TS. Đặng Thị Vân Chi Page 27 mô hình trang trại ra đời và phát triển khá phố biến ở tat cả các vùng của đất nước.
Từ thực tế phát triển của mô hình trang trại trong thời gian qua cho thấy, ở nước ta hiện nay và trong tương lai loại hình phổ biến và chủ yếu nhất vẫn là trang trại gia đình của hộ nông dân. Về van dé này, Nghị quyết 06NQ/TƯ ngày 10/ 11/1998 của Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Ở nông thôn hiện nay đang phát triển mô hình trang trại nông nghiệp, phổ biến là các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đảng và Nhà nước cũng đã có một số chủ trương, chính sách và bước đầu cũng đã tạo dựng được những cơ sở pháp lý cần thiết tạo điều kiện để các trang trại gia đình hình thành và phát triển. Tuy nhiên, khung pháp luật về loại hình này còn ở mức độ rât ban đâu.
e Sw chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương trong quả trình triển khai hoạt động kinh tế. Năm 1993, Nhà nước có chủ trương chia đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài. Cùng với đó là một số quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển , nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế, phát huy tính năng động, sáng tạo của những người sử dụng đất. Mỗi gia đình được nhận một phần ruộng để phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, do điều kiện quỹ đất nông nghiệp của làng còn hạn chế, chất lượng ruộng đất không đều nhau nên bình quân mỗi hộ gia đình được nhận khoảng 4 sào ruộng, nhưng thuộc nhiều loại đất và manh mún, nhỏ lẻ, phân tán ở nhiều xứ đồng. Kinh tế của các hộ gia đình chủ yếu dựa vào nông nghiệp trồng lúa và hoa màu nên thu nhập còn thấp và không ổn định. GỌỢẸTB0BẸ000808nnnnnnnơnnnnnnợgnợợợợợợơơgnnunng GA BAO Từ+ thực trạng này, căn cứ Nghị quyết số 02/NQ— HU ngày 3/7/2001 của Š -_ Đảng bộ huyện Yên Lạc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; thực hiện Kế hoạch số 243/KH — UB của UBND huyện Yên Lạc về chuyên đổi ruộng đất nhằm chuyển đổi, dồn ghép tích tụ ruộng đất để có ô thửa lớn, liền vùng, liền thửa, tạo điều kiện cho người nông dân sản xuất, tiết kiệm công sức, chi phí sản xuất trong nông nghiệp, thuận lợi cho việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, giảm chi phí, tăng thu nhập cho người nông dân, tăng hiệu quả sử dụng dat, đảm bao việc sử dụng đất một cách hiệu quả và ị bên vững. Ngày 15 tháng 7 năm 2004, UBND xã Đồng Văn đã quyết định thành Ï lập tiểu ban chỉ đạo chuyển đổi ruộng đất và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp làng Báo Văn với một sô nội dung cụ thê như sau: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp Căn cứ vào điều kiện đất đai, để có điều kiện đầu tư thâm canh, nâng cao hiệu quả sản xuât nông nghiệp, tăng giá trị trên một ha canh tác, làng đã quy hoạch thành 3 vùng sản xuất chính đó là: Những diện tích đất tốt, thuận lợi trong công tác tưới tiêu tiếp tục quy hoạch thành vùng sản xuất lúa.