Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Nhận diện hệ thống quản lý nhân sự truyền thống và quản lý nhân sự hiện đại Chương 3: Hệ thống quản lý nhân sự dưới tác động của các chính sách khoa học và công nghệ trong lĩnh vực 10 CHƢƠNG 1.1 Khái niệm và các đặc trưng của quản lý 1.1 Khái niệm quản lý Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con ngƣời. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau.W Taylor (1856-1915): là một trong những ngƣời đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trƣờng phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dƣới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua ngƣời khác và biết đƣợc một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Fayol (1886-1925): là ngƣời đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là ngƣời có tầm ảnh hƣởng to lớn trong lịch sử tƣ tƣởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.P Follet (1868-1933): tiếp cận quản lý dƣới góc độ quan hệ con ngƣời, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng: Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn đƣợc hoàn thành thông qua ngƣời khác.
Barnarrd (1866-1961): tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức. Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin. Simon (1916): cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý. Mọi công việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý.
Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức. Paul Hersey và Ken Blanc Harh: tiếp cận quản lý theo tình huống quan niệm rằng không có một phƣơng thức quản lý và lãnh đạo tốt nhất cho mọi tình huống khác nhau. Ngƣời quản lý sẽ lựa chọn phƣơng pháp quản lý căn cứ vào tình huống cụ thể.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich: trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều ngƣời đã cho rằng: Quản lý là một quá trình do một ngƣời hay nhiều ngƣời thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những ngƣời khác để đạt đƣợc kết quả mà một ngƣời hành động riêng rẽ không thể nào đạt đƣợc. Stephan Robbins: quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra.
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weichrich: đã nhóm gộp các tiếp cận về quản lý thành các loại: - Tiếp cận theo kinh nghiệm hoặc theo trƣờng hợp. - Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân. - Tiếp cận theo hành vi nhóm. - Tiếp cận theo hệ thống hợp tác xã hội.
- Tiếp cận theo hệ thống kỹ thuật - xã hội. - Tiếp cận theo lý thuyết quyết định. - Tiếp cận hệ thống. - Tiếp cận toán học hoặc “ khoa học quản lý”.
12 - Tiếp cận theo điều kiện hoặc theo tình huống. - Tiếp cận theo các vai trò quản lý. - Tiếp cận tác nghiệp. Trong số các tiếp cận trên, Harold Koontz và các đồng sự đặc biệt lƣu ý và đồng quan điểm với tiếp cận tác nghiệp (tiếp cận này còn đƣợc gọi là trƣờng phái quy trình quản lý).
Tiếp cận này đƣợc đề cao bởi vì Trƣờng phái tác nghiệp thừa nhận sự tồn tại một hạt nhân trung tâm của khoa học quản lý và lý thuyết đặc dụng cho quản lý và cũng rút tỉa những đóng góp quan trọng từ các trƣờng phái và các cách tiếp cận khác”. Chính vì vậy, Harold Koontz và các đồng nghiệp cho rằng: Bản chất quản lý là phối hợp các nỗ lực của con ngƣời thông qua các chức năng lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra. Điều đáng lƣu ý là các tác giả của “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng: “khu rừng lý thuyết quản lý không chỉ tiếp tục nở hoa mà còn rậm rạp hơn gần gấp đôi con số các trƣờng phái hoặc cách tiếp cận đã đƣợc tìm ra trong hơn hai mƣơi năm trƣớc”. Những tiếp cận và quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa dạng và phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn về quản lý.
Tuy nhiên, các tiếp cận và quan niệm trên chỉ mới xem xét quản lý ở những góc độ và khía cạnh nhất định mà chƣa nhìn nhận nó nhƣ một chỉnh thể với những quan hệ cơ bản, vì vậy, chƣa vạch ra đƣợc bản chất của quản lý. Sở dĩ có những sự khác nhau trong tiếp cận và quan niệm nhƣ vậy là do các nguyên nhân sau: - Quản lý là lĩnh vực chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng, phức tạp và luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội ở những giai đoạn nhất định. 13 - Nhu cầu mà thực tiễn quản lý đặt ra ở các giai đoạn lịch sử là không giống nhau, vì vậy, đòi hỏi phải có những quan niệm, lý thuyết về quản lý làm cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn cũng khác nhau. - Trình độ phát triển ngày càng cao của các khoa học và khả năng ứng dụng những thành tựu của chúng vào lĩnh vực quản lý làm xuất hiện những trƣờng phái mới với những lý thuyết mới trong quản lý.
- Vị thế, chỗ đứng, lập trƣờng giai cấp của các nhà tƣ tƣởng quản lý là không giống nhau. Vậy bản chất của quản lý là gì? Để làm rõ bản chất của quản lý, trƣớc hết cần phải xác định điểm xuất phát khi nghiên cứu về quản lý. Quản lý là một trong vô lƣợng các hoạt động của con ngƣời, nhƣng đó là một loại hình hoạt động đặc biệt là lao động siêu lao động, lao động về lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình lao động cụ thể làm đối tƣợng để tác động tới nhằm phối hợp, kết hợp chúng lại thành một hợp lực từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức. Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tƣơng đối và mang những đặc trƣng riêng của nó.
Chúng ta biết rằng, con ngƣời chỉ có thể tồn tại và phát triển thông qua hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Bất kỳ hoạt động nào cũng đƣợc tiến hành theo quy trình: Chủ thể (con ngƣời có ý thức) sử dụng những công cụ, phƣơng tiện và các cách thức nhất định để tác động vào đối tƣợng (tự nhiên, xã hội, tƣ duy) nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hoạt động sản xuất vật chất là loại hình hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con ngƣời và đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của con ngƣời của xã hội. Hoạt động sản xuất vật chất đƣợc thực hiện theo quy trình: Chủ thể sản xuất (con ngƣời với kinh nghiệm, kỹ năng và tri thức lao động của họ) sử dụng những công cụ, phƣơng tiện và các cách thức sản xuất để tác động vào đối tƣợng sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con 14 ngƣời.
Ngoài việc tuân theo quy trình của hoạt động nói chung và hoạt động sản xuất nói riêng, hoạt động quản lý còn có những đặc trƣng riêng của nó. Tính đặc thù của hoạt động quản lý so với hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện trên tất cả các phƣơng diện: Chủ thể; Đối tƣợng; Công cụ, phƣơng tiện; Cách thức tác động và mục tiêu. Từ xuất phát điểm nhƣ đã trình bày ở trên, kế thừa những nhân tố hợp lý của các tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tƣ tƣởng quản lý, có thể tổng hợp và rút ra định nghĩa về quản lý nhƣ sau: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trƣờng biến đổi. Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng: - Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, đó là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tƣợng quản lý.
- Quản lý là tác động có ý thức. - Quản lý là tác động bằng quyền lực. - Quản lý là tác động theo quy trình. - Quản lý là phối hợp các nguồn lực.
- Quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung. - Quản lý tồn tại trong một môi trƣờng luôn biến đổi. Nhƣ vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phƣơng tiện quản lý, cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môi trƣờng quản lý. Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý.
15 Có thể nói rằng, quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phƣơng diện: - Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân. - Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, giảm mâu thuẫn giữa hai bên. - Thứ ba, tăng cƣờng hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm đƣợc những việc mà một cá nhân không thể làm đƣợc, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể.2 Các đặc trưng cơ bản của quản lý Quản lý có các đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: Một là: Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến. Điều đó có nghĩa là con ngƣời không thể tồn tại và phát triển nếu không có quan hệ và hoạt động với ngƣời khác.