CHƯƠNG 1 BIEN DOI CƠ CẤU LAO ĐỘNG - VIỆC LAM Ở XA PHU CAT, HUYỆN QUOC OAL, HÀ NỘI (2000 — 2010) 1. Cac yêu tô tác động dén sự biên đôi co cau lao động — việc lam ở xã Phú Cát, huyện Quốc Oai, Hà Nội 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phú Cát Vi trí địa lý, quá trình hình thành Xã Phú Cát nằm ở phía Tây huyện Quốc Oai', Hà Nội, diện tích tự nhiên là 1. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 536 ha.279 người với 1.767 hộ, được phân bố ở 7 thôn”.
Phú Cát cách trung tâm huyện khoảng 12km. Phía Bắc xã Phú Cát giáp xã Thạch Hòa và xã Đồng Trúc, huyện Thạch Thất. Phía Nam giáp xã Hòa Thạch, phía đông giáp xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai. Phía tây giáp xã Phú Mãn và xã Đông Xuân huyện Quốc Oai.
Vùng đất Phú Cát xưa thuộc quận Giao Chỉ, quận Tân Hưng, Tân Xương châu rồi sau thuộc đất Phong Châu. Cuối thế kỷ 15, tỉnh Sơn Tây được thành lập, vùng đất này thuộc tỉnh Sơn Tây. Trước cách mạng tháng Tám (1945), xã Phú Cát mang tên Giã Cát thuộc tổng Can Xá” (tài liệu cũ ghi là tổng Gia Cát), phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Tổng Cấn Xá bao gồm cả xã Hòa Thạch ngày nay.
Xã Giã Cát gồm năm xóm là: Đình, Giữa, Mô, Đồi, Bỗi và ba xóm ở xung quanh là: Phú Bình, Không Mục, Đồng Vàng. ! Quốc Oai trước đây là trấn, rồi phủ Quốc Oai, gồm. các huyện Đan Phượng, Từ Liêm, Thạch Thất, Yên Sơn, Phúc Lộc (sau là Phúc Thọ). Năm 1888, phủ Quốc Oai chuyên thành huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Sơn Tây.
Từ năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây, đến 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1978, một phần huyện nhập về Hà Nội. Phần còn lại của huyện (trong đó có Phú Cát) vẫn thuộc Hà Sơn Bình. Từ 1991 huyện Quốc Oai lại trở về với tỉnh Hà Tây.
Từ tháng 8 năm 2008, cùng với toàn tỉnh Hà Tây, huyện Quốc Oai nhập về Thủ đô Hà Nội.Téng Cấn Xá gồm các xã: Bạch Thạch, Can Xá, Can Xá Hạ, Đông La hạ, Đông La thượng, Gia Cát, Hoà Mục, Phú Mãn, Yên Thái [5,13]. 14 Trên địa ban ở Phú Cát còn có các xóm Phú Cao và Phú Bàn, trước đây thuộc xã Can Xá, thuộc tổng cùng tên Can Xá. Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã Can Xá có 2. Ruộng dat, theo bài chỉ có 930 mẫu ruộng cấy lúa và 650 mẫu đất thô cư, thổ canh.
Nhân dân trên địa bàn xã gồm hai dân tộc chính là Kinh, Mường. Dân tộc Mường cư trú tập trung ở xóm Đồng Vàng, những năm trước cách mạng tháng Tám có 30 hộ với hơn 100 người." Năm 1955, hai xóm Phú Cao và Phú Bàn được sáp nhập vào xã Phú Cát. Cũng trong năm 1955, một số hộ gia đình ở Phú Bình sang sinh sống ở khu đồi bãi, khai hóa đất đai, lập thêm một xóm mới, đặt tên là Phú Sơn. Phú Cát có tiềm năng để phát triển nền kinh tế toàn diện, nhất là về nông nghiệp, công nghiệp.
Đặc điểm đất đai vùng bán sơn địa, bao gồm chủ yếu là đất phù sa cô trên phiến thạch, đất phù sa sông suối và đốc tụ. Phú Cát nằm trên miền đất có lịch sử lâu đời, là nơi quần cư của người Việt cô sinh sống lâu đời trên mảnh đất này. Trải qua quá trình khai phá đất đai, xây dựng cuộc song, các thé hệ người dan nơi đây đã ké vai sát cánh trong lao động sản xuất và bảo vệ xóm làng, hình thành những đức tính tốt đẹp, trở thành nét truyền thống riêng biệt của địa phương. Phú Cát là nơi sớm hình thành các giá trị văn hóa truyền thống bản địa.
Với vị trí địa lý và địa hình, địa thế thuận lợi, Phú Cát đã trở thành một địa bàn sớm được con người chọn định cư và cư dân tăng nhanh. Nằm cách huyện ly không xa, lại có cả chợ, cả bến đò. Những tên đất, tên làng như làng Bát, bến đò Bát đã nói lên khái niệm đó. Trong quá trình sản xuất, nhân dân đã phát hiện được hai chiếc trống đồng”.
Những trống đồng phát lộ ở Phú Cát được xếp loại Hêgơ. Nhân dân Phú Cát vốn thuần túy sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, không có nghề thủ công truyền thống, chỉ biết đánh đá ong và nung đốt gạch ngói. Con người Phú Cát chất phác, chân thật, đôn hậu, chịu thương chịu khó, hay lam 5.Hiện một chiếc được trưng bày tại nhà truyền thống đầu tranh vũ trang cách mạng của Ban chỉ huy quân sự huyện còn một chiéc được giữ lại thành phô. Các thế hệ người dân tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất, đấu tranh chống giặc giã và giàu tình thương đối với mọi người, nhất là những lúc gặp hoạn nạn, khó khăn - ké cả đối với dân trong xã và người nơi khác”.
Tiêu biểu cho nét truyền thống tốt đẹp đó là truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng làng xã bên chặt. Trong thời kỳ đổi mới, diện mạo Phú Cát đồi thay nhanh chóng, đặc biệt sau khi đường cao tốc Láng - Hòa Lạc hoàn thành và sau đó được nâng cấp thành đại lộ Thăng Long (khánh thành nhân dịp 1000 năm Thăng Long - Hà Nội), xã còn có đường 21A (đầu tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua). Với quy hoạch phát triển của trung ương và thủ đô Hà Nội, Phú Cát nam trên chuỗi đô thị Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai - Miếu Môn; là địa bàn phát triển phía Tây của Thủ đô, Phú Cát có những khu quy hoạch lớn của chính phủ, đang tạo ra những vận hội mới trong tiến trình CNH, HĐH phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Lịch sử hình thành của xã Phú Cát là quá trình phát triển trải qua nhiều biến đổi về hành chính cùng với những thăng tram của lịch sử dân tộc.
Đó là một quá trình phát triển liên tục nhưng hay bị đứt quãng, lúc thăng lúc trầm giữa các giai đoạn, điều này không chỉ thấy có ở Phú Cát, mà là bức tranh phát triển chung của làng quê Việt Nam. Địa hình - khoáng sản: Phú Cát có địa hình tương đối phức tạp, chênh lệch độ cao khá lớn giữa các xứ đồng. Trên dia bàn xã có nhiều đôi gò, ao hồ hau hết diện tích đất trồng lúa là vàn thấp và chân van. Dia hình xã Phú Cát thuận lợi cho sự phát triển hệ thong ha tang, các khu công nghiệp, các co sở dich vụ thương mai.
Phú Cát là một trong bốn xã thuộc vùng phía Tây của huyện Quốc Oai, giáp với huyện Lương Sơn (Hòa Bình), tựa lưng vào dãy núi Vua Bà, có dòng sông Tích chảy qua địa phận xã. Xã Phú Cát nằm trên vùng chuyên tiếp, một trong những cửa ngõ giữa miền núi với đông băng, g1ữa vùng bán sơn dia với các xã vùng ngoai của huyện. Năm 1945 bi đói, nhiều người nơi khác qua đây được nhân dân trong xã cưu mang, có người không may bị chêt được chôn cât tử tê. 16 Phú Cát có địa hình của vùng trung du, diện tích đất đai rộng xen lẫn đất gò và ruộng thấp, nhiều đồi gò, trước đây có các chằm lầy hoang vu, cây cỏ rậm rạp, có nhiều thú đữ sinh sống.
Hoa màu lương thực (sắn, khoai) và các loại nông sản khác hoặc cây công nghiệp (đậu tương, lạc, chè). Phú Cát cũng có một số loại tài nguyên như nước khoáng, than bùn, là nơi có nhiều đá ong dé khai thác làm vật liệu xây dựng rất thuận tiện (lẫn trong đất, đá còn có cả sa khoáng). Dưới chân các đồi, gò là vùng vàn, vùng trũng thuận lợi cho việc canh tác lúa nước. Khí hậu thời tiết Phú Cát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa hình thành hai mùa khá rõ rệt: mùa hè (từ tháng tư đến tháng mười) nóng âm và mưa nhiều, mùa đông (từ tháng mười một đến tháng ba năm sau) khô, lạnh, ít mưa.
Nhiệt độ không khí bình quân hàng năm 24°C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 16 độ (vào tháng 1). Nhiệt độ cao nhất trung bình 28,6 độ. Số giờ nắng trong năm trung bình là 1. Lượng mưa bình quân năm là 1.700mm, phân bố trong năm không đều: mưa tập trung từ tháng tư đến tháng mười.
Mùa khô từ cuối tháng mười đầu tháng mười một đến tháng ba năm sau, những tháng mưa ít nhất trong năm là tháng mười hai, tháng một và tháng hai. Nguồn nước Phú Cát có diện tích mặt nước khá lớn, với dòng sông Tích bắt nguồn từ Đầm Long (Ba Vì) chảy qua và các hồ ao, đầm vàn, đáp ứng tốt cho nhu cầu nước sản xuất và đời sống, đồng thời là điều kiện để phát triển thủy sản, thủy cầm. Trong lịch sử, Cấn Xá còn là nơi có đặc sản nổi tiếng Son Tây đó là cá chép: “Can Xá chi ly ngư” (Cấn Xá có cá chép). Tuy vậy, do dòng sông Tích có độ dốc cao nên cũng dễ gây úng ngập trong mùa mưa, nhanh cạn kiệt trong mùa khô.
Mặc dù có tiềm năng phong phú nhưng trước năm 1986, đời sống nhân dân trong vùng phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Nhân dân chủ yếu sống về nghề nông và nghề rừng. Hàng năm, vùng đất cao thì khô hạn, vùng đồng vàn, ruộng thấp thì chìm trong cảnh ngập lụt. Ruộng đồng chỉ cay được một vu lúa.
17 Điều kiện kinh tế Tirong trot Trong đời sống kinh tế của người dân Phú Cát từ khi hình thành cho đến trước thời điểm năm 2000, trồng trọt là ngành kinh tế chính, có vai trò quan trọng trong việc cân bằng nguồn lao động của người nông dân, đó vừa là nguồn sống, nguồn thu nhập, vừa là nhân tố góp phần hình thành những giá trị văn hoá nông nghiệp của nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và người dân Phú Cát nói riêng. Các loại cây trồng chủ yếu gồm: Cây lúa: là cây trồng chính trong mọi thời kỳ phát triển của xã. Từ năm 1960, xã Phú Cát bắt đầu tổ chức hợp tác xã với quy mô đến từng đội sản xuất, từ đây việc canh tác trồng trọt của người nông dân có sự đổi mới rõ rệt. Nếu trước kia chỉ cấy vụ đông, các vụ khác trồng rau màu, cây lúa và các cây hoa màu đều trông chờ vào nước trời thì bây giờ cấy 1 năm 2 vụ lúa, các loại cây hoa mau va cây công nghiệp ngắn ngày khác đều có nước tưới chủ động.
Cây khoai (khoai lang và khoai sọ): cây khoai lang là loại cây trồng quan trọng sau cây lúa. Đây lại là cây hợp với chất đất của làng nên dễ trồng, cho năng suất cao, | năm trồng 2 vụ.