Phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại huyện Vĩnh Thuận, Kiên Giang

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Trường đại học

Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1.1. Bảo hiểm xã hội

1.1.2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.2.1. Khái niệm phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.2. Cơ sở khoa học của sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.3. Nội dung phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.4. Các tiêu chí phản ánh phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện

1.2.5. Các mối quan hệ giữa các bên liên quan trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.3. CÁC YẾU TỐ ANH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

2.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

2.1.2. Tình hình dân cư và lao động

2.1.3. Khái quát về Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

2.2. THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

2.2.1. Tình hình nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người dân

2.2.2. Tình hình mở rộng các loại hình dịch vụ BHXH tự nguyện

2.2.3. Tình hình rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ BHXH tự nguyện cho người dân

2.2.4. Tình hình mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện

2.2.5. Tình hình nâng cao chất lượng dịch vụ BHXH tự nguyện

2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXHTN TẠI HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KÊN GIANG

2.4.1. Kết quả đạt được

2.4.2. Những hạn chế chủ yếu

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

3.1.1. Quan điểm chung về phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại BHXH huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

3.1.2. Mục tiêu phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại BHXH huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN TẠI HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

3.2.1. Hoàn thiện, sửa đổi cơ chế chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.2.2. Xây dựng chương trình phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện của BHXH huyện đến 2025

3.2.3. Nâng cao nhận thức của người lao động tham gia chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.2.4. Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách, tổ chức dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.2.5. Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện BHXH tự nguyện

3.2.6. Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến chính sách BHXH tự nguyện

3.2.7. Giải pháp tăng cường công tác quản lý nguồn vốn quỹ BHXH tự nguyện

3.3. KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ỔN ĐỊNH AN SINH XÃ HỘI HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

3.3.1. Một số kiến nghị phát triển nông nghiệp của huyện Vĩnh Thuận định hướng tới 2025

3.3.2. Tạo việc làm, ổn định thu nhập đối với người lao động đặc biệt là lao động thu nhập thấp

3.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chính sách BHXH tự nguyện Vĩnh Thuận hiện nay

Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trụ cột quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam. Chính sách này mở ra cơ hội cho những người lao động tự do, nông dân tham gia BHXH, và các đối tượng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc được tiếp cận với một mạng lưới an toàn, đảm bảo nguồn thu nhập khi hết tuổi lao động. Tại huyện Vĩnh Thuận, một địa phương với đặc thù kinh tế nông nghiệp, việc triển khai chính sách này mang ý nghĩa chiến lược, hướng tới mục tiêu đảm bảo cuộc sống ổn định và an sinh tuổi già cho mọi người dân. Tuy nhiên, việc phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại đây vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi sự phân tích sâu sắc về thực trạng và các giải pháp đồng bộ. Luận văn thạc sĩ “Phát triển dịch vụ Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại BHXH huyện Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang” (2020) đã chỉ ra rằng, mặc dù tiềm năng rất lớn, số người tham gia còn hạn chế, chưa tương xứng với kỳ vọng. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết thực trạng, các rào cản và đề xuất các giải pháp khả thi dựa trên những nghiên cứu học thuật, nhằm phát triển đối tượng tham gia BHXH một cách bền vững tại địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò cốt lõi của BHXH tự nguyện

Theo định nghĩa tại Luật Bảo hiểm xã hội, BHXH tự nguyện là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được tự nguyện lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Mục tiêu chính là để hưởng các chế độ hưu trí và tử tuất. Vai trò của chính sách này vô cùng quan trọng, đặc biệt tại các khu vực nông thôn như Vĩnh Thuận. Thứ nhất, nó tạo ra một kênh tiết kiệm an toàn và có kỷ luật, giúp người lao động tự do tích lũy cho tuổi già. Thứ hai, nó góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm khoảng cách về phúc lợi giữa khu vực lao động chính thức và phi chính thức. Khi về già, người tham gia sẽ có một khoản lương hưu tự nguyện ổn định, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội. Điều này không chỉ đảm bảo an ninh thu nhập cá nhân mà còn góp phần vào sự ổn định kinh tế - xã hội chung của toàn huyện.

1.2. Quyền lợi và mức đóng BHXH tự nguyện cập nhật

Người tham gia được hưởng hai quyền lợi BHXH tự nguyện chính: chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Để hưởng lương hưu, người tham gia cần đáp ứng điều kiện về tuổi đời và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Mức hưởng lương hưu được tính dựa trên tỷ lệ hưởng và mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH. Đặc biệt, từ ngày 01/01/2018, Nhà nước đã triển khai chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia. Mức hỗ trợ dao động từ 10% đến 30% trên mức đóng hàng tháng theo chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn, tùy thuộc vào đối tượng. Về mức đóng BHXH tự nguyện, người tham gia được linh hoạt lựa chọn mức thu nhập làm căn cứ đóng, thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở. Tỷ lệ đóng hiện hành là 22% trên mức thu nhập lựa chọn. Sự linh hoạt này giúp người dân, đặc biệt là nông dân tham gia BHXH có thu nhập không ổn định, dễ dàng tiếp cận và duy trì việc tham gia.

II. Phân tích thực trạng BHXH tự nguyện Vĩnh Thuận và rào cản

Thực trạng phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Thuận trong giai đoạn 2017-2019 cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ những hạn chế lớn. Mặc dù có sự nỗ lực từ cơ quan chức năng, tỷ lệ người dân tham gia vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng to lớn của huyện. Dữ liệu từ luận văn gốc cho thấy, số người tham gia BHXH tự nguyện chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (1,65% năm 2019) trong tổng số lao động thuộc diện. Đây là một con số báo động, cho thấy chính sách nhân văn này chưa thực sự lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng. Việc xác định rõ nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này là bước đi tiên quyết để xây dựng các giải pháp đột phá. Các rào cản không chỉ đến từ yếu tố kinh tế mà còn sâu xa từ nhận thức, thói quen và hiệu quả của công tác truyền thông, triển khai chính sách tại cơ sở. Sự thiếu hụt thông tin và những lo ngại về thời gian đóng dài, mức hưởng trong tương lai là những thách thức chính cần được giải mã và khắc phục.

2.1. Số liệu tham gia thấp và cơ cấu đối tượng chưa đa dạng

Theo Bảng 2.5 trong tài liệu nghiên cứu, số người tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Vĩnh Thuận giai đoạn 2017-2019 có sự tăng trưởng nhưng tốc độ còn chậm. Cụ thể, số thu BHXH tự nguyện chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng số thu của bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Thuận. Tỷ lệ bao phủ trên tổng lực lượng lao động tiềm năng còn rất thấp, chưa đạt được mục tiêu đề ra. Một vấn đề đáng chú ý khác là cơ cấu đối tượng tham gia. Phần lớn người tham gia là những người đã có thời gian đóng BHXH bắt buộc nhưng chưa đủ năm để hưởng hưu, nay tiếp tục đóng tự nguyện. Nhóm đối tượng cốt lõi là nông dân tham gia BHXHngười lao động tự do thuần túy, những người chưa từng tiếp cận hệ thống an sinh, lại chiếm tỷ lệ không cao. Điều này cho thấy chính sách chưa thực sự hấp dẫn và tiếp cận hiệu quả đến nhóm đối tượng cần được bảo vệ nhất.

2.2. Nguyên nhân từ thu nhập và nhận thức của người lao động

Hai nguyên nhân chính được xác định là rào cản lớn nhất. Thứ nhất, thu nhập của phần lớn người dân Vĩnh Thuận, chủ yếu từ nông nghiệp, thường không ổn định và ở mức thấp. Việc trích ra một khoản tiền hàng tháng để đóng BHXH là một quyết định khó khăn khi phải ưu tiên cho các chi tiêu thiết yếu trước mắt. Thứ hai, nhận thức về tầm quan trọng của việc đảm bảo an sinh tuổi già thông qua BHXH tự nguyện còn hạn chế. Nhiều người vẫn có tâm lý 'trời sinh voi sinh cỏ' hoặc ưu tiên các hình thức tiết kiệm ngắn hạn, linh hoạt hơn là đầu tư dài hạn cho lương hưu tự nguyện. Công tác tuyên truyền chính sách BHXH dù đã được triển khai nhưng chưa đủ sâu, chưa đủ sức thuyết phục để thay đổi thói quen và tư duy cố hữu của một bộ phận lớn người dân. Sự thiếu tin tưởng vào tính bền vững của quỹ và lo ngại về trượt giá của đồng tiền cũng là những yếu tố tâm lý cản trở quyết định tham gia.

III. Bí quyết tuyên truyền chính sách BHXH đến người dân hiệu quả

Để vượt qua rào cản về nhận thức, công tác tuyên truyền chính sách BHXH cần được đổi mới toàn diện, từ nội dung đến hình thức và phương pháp tiếp cận. Thay vì các phương pháp truyền thống, cần xây dựng một chiến lược truyền thông đa kênh, cá nhân hóa và tập trung vào lợi ích thiết thực. Mục tiêu không chỉ là cung cấp thông tin mà phải là thay đổi hành vi, giúp người dân hiểu rõ “Tại sao tôi cần tham gia BHXH tự nguyện?”. Nội dung tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu, sử dụng các ví dụ thực tế về những người đã được hưởng lương hưu tự nguyện tại chính địa phương để tạo sự tin tưởng. Việc so sánh trực quan giữa lợi ích của BHXH tự nguyện với các hình thức tiết kiệm khác sẽ giúp người dân có cái nhìn rõ ràng hơn để đưa ra quyết định. Vai trò của đội ngũ đại lý thu BHXH và các tổ chức đoàn thể tại cơ sở là cực kỳ quan trọng, họ chính là cầu nối trực tiếp và đáng tin cậy nhất để đưa chính sách vào cuộc sống.

3.1. Đa dạng hóa các kênh truyền thông trực quan dễ tiếp cận

Cần thoát ly khỏi các hình thức tuyên truyền khô khan như hội nghị hay tờ rơi. Thay vào đó, cần tập trung vào các kênh trực quan, sinh động như video ngắn, infographic, tiểu phẩm trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến tại địa phương. Tổ chức các buổi tư vấn流動 (mobile counseling) tại các chợ, khu dân cư, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt ấp, khu phố. Xây dựng các câu chuyện thành công (success stories) về những người cao tuổi đang sống an vui nhờ lương hưu tự nguyện để lan tỏa. Việc sử dụng ngôn ngữ địa phương, gần gũi và các hình ảnh quen thuộc sẽ giúp thông điệp về quyền lợi BHXH tự nguyện trở nên dễ tiếp nhận hơn. Mỗi kênh truyền thông phải được thiết kế riêng để phù hợp với từng nhóm đối tượng, từ thanh niên lao động tự do đến nông dân lớn tuổi.

3.2. Nâng cao vai trò của đại lý thu BHXH và mạng lưới cơ sở

Hệ thống đại lý thu BHXH, bao gồm cả nhân viên Bưu điện Vĩnh Thuận và các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, đóng vai trò then chốt. Cần thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn, thuyết phục và kiến thức chuyên môn cho đội ngũ này. Họ không chỉ là người thu tiền mà phải là những 'đại sứ' của chính sách an sinh. Cần có cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời cho các đại lý hoạt động hiệu quả trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH. Việc tổ chức các nhóm nhỏ, đi 'từng ngõ, gõ từng nhà' để tư vấn trực tiếp về thủ tục tham gia BHXH tự nguyện và giải đáp thắc mắc được xem là phương pháp hiệu quả nhất tại các vùng nông thôn. Sự kiên trì và gần gũi của đội ngũ này sẽ tạo dựng niềm tin vững chắc nơi người dân.

IV. Giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH tại Vĩnh Thuận

Bên cạnh công tác tuyên truyền, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy trình vận hành là yếu tố sống còn để phát triển đối tượng tham gia BHXH một cách bền vững. Các giải pháp cần tập trung vào việc gỡ bỏ các rào cản về thủ tục, tài chính và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân khi tiếp cận chính sách. Việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp cơ quan BHXH quản lý hiệu quả mà còn mang lại trải nghiệm dịch vụ tốt hơn cho người tham gia. Cần nghiên cứu các mô hình hỗ trợ linh hoạt, phù hợp với đặc thù thu nhập theo mùa vụ của nông dân tham gia BHXH. Đồng thời, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Thuận với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể là chìa khóa để triển khai đồng bộ các giải pháp, tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho người dân tham gia BHXH tự nguyện.

4.1. Cải cách thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

Đơn giản hóa thủ tục tham gia BHXH tự nguyện là yêu cầu cấp thiết. Cần giảm bớt các giấy tờ không cần thiết, cho phép đăng ký và nộp tiền trực tuyến thông qua ứng dụng VssID hoặc các nền tảng thanh toán điện tử. Việc này không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho người dân mà còn tăng tính minh bạch. Người tham gia có thể dễ dàng tra cứu quá trình đóng, quyền lợi dự kiến được hưởng ngay trên điện thoại thông minh. Đối với cơ quan BHXH, việc số hóa dữ liệu giúp quản lý đối tượng, theo dõi quá trình thu và dự báo chi trả chính xác hơn. Việc cập nhật thông tin về sổ BHXH điện tử cần được đẩy mạnh, thay thế dần sổ giấy truyền thống, mang lại sự tiện lợi và an toàn cho người lao động.

4.2. Xây dựng chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH linh hoạt hơn

Ngoài chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH của trung ương, tỉnh Kiên Giang và huyện Vĩnh Thuận có thể nghiên cứu, ban hành thêm các chính sách hỗ trợ riêng cho các nhóm đối tượng đặc thù như hộ cận nghèo, nông dân trong các vùng khó khăn. Có thể xem xét cơ chế đóng linh hoạt theo mùa vụ, cho phép người dân đóng gộp nhiều tháng vào thời điểm thu hoạch nông sản. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp với các ngân hàng chính sách xã hội để có các gói vay ưu đãi giúp người dân có nguồn tài chính ban đầu để tham gia. Việc kết hợp BHXH tự nguyện với các sản phẩm tài chính vi mô khác cũng là một hướng đi tiềm năng, giúp gia tăng giá trị và sức hấp dẫn của chính sách.

V. Định hướng phát triển BHXH tự nguyện Vĩnh Thuận đến 2025

Để hiện thực hóa mục tiêu BHXH toàn dân, huyện Vĩnh Thuận cần có một lộ trình và mục tiêu phát triển rõ ràng cho giai đoạn đến năm 2025. Định hướng này phải bám sát các mục tiêu chung của ngành và điều kiện thực tiễn của địa phương. Trọng tâm là tập trung vào việc mở rộng nhanh chóng độ bao phủ, đặc biệt trong nhóm lao động phi chính thức, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ chân người tham gia. Việc đảm bảo an sinh tuổi già không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành BHXH mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của xã hội và quan trọng nhất là sự tin tưởng, tham gia chủ động của người dân. Sự thành công trong việc phát triển BHXH tự nguyện sẽ là một minh chứng rõ nét cho sự phát triển bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.

5.1. Mục tiêu mở rộng độ bao phủ và đảm bảo an sinh tuổi già

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025 là nâng tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH tự nguyện tại Vĩnh Thuận lên một con số cụ thể, cao hơn đáng kể so với hiện tại, tiệm cận với mục tiêu chung của tỉnh và cả nước. Để làm được điều này, cần xác định các nhóm đối tượng tiềm năng theo từng xã, ấp để có kế hoạch tiếp cận phù hợp. Việc đảm bảo an sinh tuổi già thông qua lương hưu tự nguyện phải trở thành một mục tiêu tài chính quan trọng trong kế hoạch của mỗi gia đình. Cần nhấn mạnh rằng, tham gia BHXH tự nguyện chính là hình thức 'đầu tư' an toàn và hiệu quả nhất cho tương lai, đảm bảo một cuộc sống độc lập, tự chủ khi về già.

5.2. Kiến nghị hoàn thiện chính sách vĩ mô và phối hợp liên ngành

Từ thực tiễn tại Vĩnh Thuận, cần có những kiến nghị lên cấp cao hơn. Cần nghiên cứu sửa đổi chính sách theo hướng giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu (có thể xuống 15 năm hoặc 10 năm) nhằm tăng tính hấp dẫn. Bổ sung thêm các quyền lợi linh hoạt như chế độ thai sản, ốm đau ở mức độ cơ bản để thu hút lao động nữ và lao động trẻ. Về phía địa phương, cần tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền trong việc chỉ đạo và giám sát công tác này. Sự phối hợp giữa ngành BHXH, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nông nghiệp, và các tổ chức đoàn thể phải thực chất và hiệu quả hơn, đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ nghiệp phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại bảo hiểm xã hội huyện vĩnh thuận tỉnh kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết là phải ăn, mặc, ở và đi lại…Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động làm ra sản phẩm cần thiết.

Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống của con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thảo mãn nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của họ. Theo Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”.

Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu. Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999). “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo 10 an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”. Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.

Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội Xuất phát từ bản chất của BHXH là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác 11 của quỹ BHXH; Nhằm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng; Nhằm góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. BHXH nói chung có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, người lao động khi tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập (bảo hiểm) cả trong và sau quá trình lao động. Nói cách khác, khi tham gia vào quan hệ BHXH và đảm bảo các điều kiện luật định, người lao động được bảo hiểm cho tới lúc chết.

Thứ hai, các sự kiện bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của người lao động gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết. Thứ ba, người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Phân loại bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải lao động để tạo ra các giá trị giúp thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống của con người cũng thuận lợi, có thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà nó luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro như: thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến động xã hội,.

và không ai tránh được quy luật sinh lão bệnh tử. Khi đó, khả năng lao động của mỗi người bị giảm sút, thậm chí là mất khả năng lao động khiến thu nhập bị ảnh hưởng, trong khi các nhu cầu của cuộc sống lại đặt ra cấp thiết hơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình mỗi người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Để tạo ra cơ chế hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao 12 động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới ngay từ rất sớm đã xây dựng các loại hình BHXH.

Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như mức độ phát triển, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một chính sách riêng, nhưng tựu chung hiện có hai loại hình BHXH là: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Vai trò của Bảo hiểm xã hội - Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với cá nhân người lao động và gia đình: Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013).

Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già (Viet Nam Foundation, 2013). - Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với xã hội: Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.

Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro 13 cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.

Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh. Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.

Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội. Trên giác độ xã hội, BHXH TN là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ kinh tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội (Viet Nam Foundation, 2013) 1.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội tự nguyện Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải lao động để tạo ra các giá trị giúp thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống của con người cũng thuận lợi, có thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà nó luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi 14 ro như: thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến động xã hội,. và không ai tránh được quy luật sinh lão bệnh tử.

Khi đó, khả năng lao động của mỗi người bị giảm sút, thậm chí là mất khả năng lao động khiến thu nhập bị ảnh hưởng, trong khi các nhu cầu của cuộc sống lại đặt ra cấp thiết hơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình mỗi người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Để tạo ra cơ chế hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới ngay từ rất sớm đã xây dựng các loại hình BHXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ