Luận án TS: Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của lao động khu vực phi chính thức

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức. Nghiên cứu tại Hà Nội, đề xuất các giải pháp.

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

185
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Tầm Quan Trọng của Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một hình thức bảo vệ xã hội quan trọng dành cho lao động phi chính thức. Luận án tiến sĩ năm 2020 của Nguyễn Thị Tuyết Nga từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung nghiên cứu thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở quận Tây Hồ, Hà Nội. Khu vực phi chính thức bao gồm các lao động tự do, kinh doanh nhỏ lẻ, công nhân không có hợp đồng lao động chính thức. Các đối tượng này thường không được hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, do đó bảo hiểm xã hội tự nguyện trở thành giải pháp thiết thực để đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi lao động và xây dựng mạng lưới an toàn xã hội toàn diện cho các lao động dễ bị tổn thương.

1.1. Định Nghĩa Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là chế độ bảo hiểm không bắt buộc, cho phép người lao động tự chọn tham gia dựa trên nhu cầu và khả năng kinh tế của bản thân. Khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng cho lao động có hợp đồng chính thức, bảo hiểm xã hội tự nguyện linh hoạt hơn về mức đóng, thời gian tham gia, với mục đích cung cấp bảo vệ cơ bản về y tế, hưu trí và các chế độ khác cho đối tượng lao động phi chính thức.

1.2. Tầm Quan Trọng Đối Với Lao Động Phi Chính Thức

Lao động phi chính thức chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, đối mặt với nhiều rủi ro như mất việc làm, tai nạn lao động, bệnh tật mà không có bảo vệ xã hội. Bảo hiểm xã hội tự nguyện giúp giảm gánh nặng kinh tế khi gặp khó khăn, đảm bảo chất lượng cuộc sống, tạo sự ổn định tâm lý và từng bước xây dựng hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn bộ xã hội.

II. Thực Trạng Tham Gia Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Tại Quận Tây Hồ

Nghiên cứu thực địa của luận án tiến sĩ đã khảo sát tình hình tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở 8 phường thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Kết quả cho thấy mức độ tham gia của lao động phi chính thức vẫn còn thấp, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Phần lớn người lao động trong khu vực phi chính thức chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện, hoặc gặp khó khăn về khả năng tài chính. Qua phỏng vấn sâu và khảo sát bảng hỏi, nghiên cứu đã xác định được những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tham gia, từ tâm lý, nhận thức, kinh tế đến chính sách công của Nhà nước.

2.1. Đặc Điểm Người Lao Động Khu Vực Phi Chính Thức

Lao động phi chính thức ở quận Tây Hồ chủ yếu bao gồm: lao động tự do, tiểu thương, thợ làm công việc thủ công, lao động nông nghiệp thời vụ. Họ có thu nhập không ổn định, điều kiện làm việc không đảm bảo, không có hợp đồng lao động chính thức. Trình độ học vấn đa dạng, từ không hoàn thành cấp hai đến có bằng cấp cao. Yếu tố kinh tế là rào cản lớn nhất ngăn cản họ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

2.2. Mức Độ Tham Gia Hiện Tại

Dữ liệu khảo sát cho thấy tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động phi chính thức tại khu vực nghiên cứu vẫn ở mức thấp. Các nguyên nhân chính gồm: thiếu nhận thức, khó khăn tài chính, phức tạp trong thủ tục hành chính, thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ các cơ quan chuyên môn. Cần có những giải pháp cải thiện để nâng cao nhận thức và khuyến khích lao động phi chính thức tham gia.

III. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Tham Gia

Luận án tiến sĩ xác định ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động phi chính thức. Thứ nhất là yếu tố tâm lý và nhận thức: người lao động cần hiểu rõ lợi ích, có niềm tin vào chế độ và cảm thấy bảo hiểm là cần thiết. Thứ hai là yếu tố kinh tế: khả năng thanh toán phí bảo hiểm thường xuyên là thách thức lớn với nhóm có thu nhập thấp và không ổn định. Thứ ba là yếu tố chính sách và hành chính: quy trình đăng ký phức tạp, thiếu hỗ trợ từ cơ quan chuyên môn, chế độ không phù hợp với tính chất công việc phi chính thức đều ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định.

3.1. Yếu Tố Tâm Lý và Nhận Thức

Nhận thức của lao động phi chính thức về bảo hiểm xã hội tự nguyện còn hạn chế. Nhiều người không hiểu rõ lợi ích của tham gia, hoặc có sự hoài nghi về độ tin cậy của hệ thống. Yếu tố tâm lý như lo lắng, do dự cũng ảnh hưởng. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng niềm tin qua các chương trình hỗ trợ thực tế.

3.2. Yếu Tố Kinh Tế

Thu nhập không ổn định của lao động phi chính thức là rào cản chính. Nhiều người không đủ tài chính để đóng phí bảo hiểm thường xuyên. Cần có các chính sách hỗ trợ như giảm mức đóng, cho phép tạm dừng, linh hoạt về thời gian để phù hợp với tình hình kinh tế của nhóm này.

3.3. Yếu Tố Chính Sách và Hành Chính

Quy trình đăng ký bảo hiểm xã hội tự nguyện cần được đơn giản hóa. Thông tin về chế độ, chính sách cần phổ biến rộng rãi. Các cơ quan chuyên môn cần tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng lao động phi chính thức tiếp cận dễ dàng hơn.

IV. Giải Pháp và Hướng Phát Triển Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao mức độ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động phi chính thức. Giải pháp cần bao gồm: (1) Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; (2) Cải cách chính sách để phù hợp hơn với tính chất công việc phi chính thức; (3) Đơn giản hóa thủ tục hành chính; (4) Hỗ trợ tài chính thông qua trợ cấp, giảm mức đóng cho nhóm có thu nhập thấp; (5) Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ bảo hiểm địa bàn; (6) Kết hợp các hình thức bảo hiểm để tạo sự bền vững. Những giải pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ, với sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức xã hội.

4.1. Tuyên Truyền và Nâng Cao Nhận Thức

Cần xây dựng chương trình tuyên truyền, giáo dục bền vững về lợi ích của bảo hiểm xã hội tự nguyện. Sử dụng nhiều kênh thông tin như truyền hình, báo, internet, hội thảo cộng đồng để tiếp cận lao động phi chính thức. Hình thành nhóm tuyên truyền viên tại cơ sở, giúp giải đáp thắc mắc, xây dựng niềm tin.

4.2. Cải Cách Chính Sách và Thủ Tục

Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cần linh hoạt hơn: cho phép lựa chọn mức đóng, điều chỉnh theo năng lực tài chính, tạm dừng tham gia khi có khó khăn. Đơn giản hóa quy trình đăng ký, cho phép đăng ký trực tuyến, giảm số giấy tờ cần thiết. Điều chỉnh chế độ để phù hợp với đặc thù công việc phi chính thức.

4.3. Hỗ Trợ Tài Chính và Phát Triển Dịch Vụ

Nhà nước cần cấp trợ cấp bảo hiểm cho nhóm lao động phi chính thức có thu nhập thấp. Phát triển mạng lưới điểm đăng ký, thu phí tại cơ sở phường/xã để lao động dễ tiếp cận. Kết hợp bảo hiểm xã hội tự nguyện với các hình thức bảo hiểm khác tạo nên hệ thống an sinh xã hội bao phủ, bền vững cho toàn xã hội.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về ASXH, ASXH đối với người lao động, khu vực kinh tế phi chính thức, nghiên cứu về tham gia HXHTN của người lao động. Chương 2: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Người lao động khu vực phi chính thức tham gia ảo hiểm xã hội tự nguyện. Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia HXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức ết luận và khu ến nghị 17 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Từ góc độ tiếp cận về quyền con người và ASXH, các chủ đề về ASXH cho người lao động khu vực phi chính thức được nhiều nhà khoa học chú ý và bàn luận.

Trong chương này, tác giả tập trung phân tích các nghiên cứu đi trước với ba hướng chính: Thứ nhất, Tổng quan các nghiên cứu lý thu ết về ASXH; Thứ hai, nghiên cứu về ASXH đối với người lao động khu vực phi chính thức; Thứ ba, nghiên cứu về BHXH tự ngu ện đối với người lao động khu vực phi chính thức 1. Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về An sinh hội Các học giả và nhà nghiên cứu quốc tế đã khẳng định ASXH là một trong những thành tố quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn kết xã hội, phát triển hài hòa, bền vững, góp phần ổn định chính trị của mỗi quốc gia, khu vực. Vì thế để làm rõ về lý luận ASXH, mô hình ASXH, thực hiện quyền ASXH đã được lực lượng lớn các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong thời gian dài. Đặc biệt là trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu theo xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ và tác động của những biến động về chính trị - xã hội của các khu vực, thì các vấn đề này được tập trung nghiên cứu nhiều hơn.

Những nghiên cứu lý luận về ASXH được các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc, các ngân hàng phát triển và các chuyên gia hàng đầu về ASXH thực hiện trong suốt thời gian hơn 50 năm qua. Tuy nhiên, nhận thức và cách tiếp cận cũng còn có nhiều sự khác biệt. Quan điểm của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (1952) cho rằng "ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân 18 có trẻ em". Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong các nước thành viên ILO, nhưng mỗi nước thường có sự vận dụng và cụ thể hoá cho phù hợp với điều kiện của nước mình.

Ngân hàng thế giới (2011) xác định: “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục được ngu cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Triết lý cơ bản của cách tiếp cận này là mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng đều có khả năng chịu ảnh hưởng của những loại hình rủi ro, vì vậy cần xây dựng cơ chế, phương tiện để các cá nhân, gia đình và cộng đồng có khả năng đối mặt với rủi ro nhằm hạn chế nguy cơ, thiệt hại mà rủi ro mang đến. Như vậy, quan niệm này nhấn mạnh khả năng kiểm soát nguy cơ là cơ sở để phát triển ASXH. Do vậy, ASXH, vừa là lưới an toàn, vừa là sự thúc đẩy sự phát triển nguồn vốn con người.

Theo đó, ba chiến lược chính là: phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Từ quan điểm này, Ngân hàng Thế giới phát triển mô hình hệ thống ASXH gắn chủ yếu với BHXH và dựa vào tư nhân hóa. Điểm mạnh của mô hình này là tính toàn diện, bền vững tài chính, dựa nhiều vào nguyên tắc đóng, hưởng, do vậy khuyến khích vai trò của bản thân đối tượng. Tuy nhiên, mô hình này chưa làm rõ vai trò của nhà nước, xã hội.

Nhìn tổng thể, Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế đều đi đến thống nhất rằng, đảm bảo ASXH là một trong những quyền cơ bản của con người. Theo quan niệm này mọi cá nhân đều có quyền được hưởng ASXH. Thực hiện quyền được bảo đảm ASXH của công dân là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của con người, người lao động, gia đình họ và cộng đồng xã hội. Với nguyên tắc dựa vào quyền công dân, mô hình ASXH gồm ba cấu phần chính là: chăm sóc y tế, trợ cấp gia đình và bù đắp thu nhập trong trường hợp ốm đau, thất nghiệp, tai nạn,.

Điểm mạnh của mô hình là có tính đoàn kết, tương trợ rủi ro, thể hiện vai trò của nhà nước trong việc tái phân phối thu 19 nhập nhằm bảo đảm các quyền an ninh thu nhập của người dân. Tuy nhiên điểm yếu là bị động, phạm vi bao phủ quá lớn và các nguy cơ rủi ro về tài chính và quản lý cao. Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, vấn đề ASXH được đặt ra trên cơ sở thuyết rủi ro. Lý thuyết này cho rằng, trong đời sống của mình, mọi cá nhân, mọi gia đình, cộng đồng đều khó tránh khỏi có lúc gặp rủi ro, đối mặt với mất mát do thiên tai hoặc biến động tiêu cực từ kinh tế- xã hội gây ra.

Vì thế, xã hội mà đại diện là Nhà nước cần phải đặt ra nhiệm vụ quản lý rủi ro, nghĩa là phải sử dụng một loạt các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, hỗ trợ cho đối tượng gặp khó khăn, giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng (Dương Văn Thắng, 2013). Theo cách tiếp cận chức năng luận, lý thuyết kinh điển của E.Durkheim và lý thuyết hiện đại của T.Parson coi chính sách xã hội (chính sách ASXH là một bộ phận của chính sách xã hội) là một tiểu hệ thống của hệ thống xã hội, có chức năng tăng cường sự đoàn kết xã hội, hội nhập xã hội, đồng thuận xã hội. Lý thuyết này nhấn mạnh vào trật tự, sự hài hòa và tính ổn định xã hội, xem xã hội như một thể thống nhất (Lê Ngọc Hùng, 2016). Cách tiếp cận lý thuyết vòng đời cho thấy cuộc đời con người là một quá trình sống gồm nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn đòi hỏi một số loại chính sách ASXH nhất định.

Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Hùng và cộng sự (2017) đã phân biệt các giai đoạn và tương ứng là các nhóm chính sách ASXH theo vòng đời như sau: (1) Tuổi trước khi đến trường bao gồm cả giai đoạn mang thai và thơ ấu. Giai đoạn này đỏi hòi chính sách ASXH như chế độ thai sản, trợ cấp trẻ em. (2) Tuổi đến trường: giai đoạn này đòi hỏi chính sách ASXH trong giáo dục như hỗ trợ học bổng, trợ cấp trẻ em mồ côi, trợ cấp tử tuất. (3) Tuổi thanh niên: đây là tuổi quá độ vào thị trường lao động, việc 20 làm với các rủi ro như thất nghiệp, ốm đau, tai nạn.

(4) Tuổi lao động: giai đoạn này đòi hỏi hầu như tất cả các loại chính sách ASXH từ bảo đảm việc làm, tạo thu nhập, giảm nghèo đến trợ giúp xã hội đột xuất, trợ giúp thường xuyên, BHXH, BHYT và các dịch vụ xã hội cơ bản (5) Tuổi già: giai đoạn này đòi hỏi đảm bảo ASXH về lương hưu, trợ cấp cho người cao tuổi. Phân tích hệ thống các chính sách ASXH theo vòng đời ở Việt Nam hiện nay cho thấy “không phải tất cả các giai đoạn của vòng đời con người đều được hỗ trợ. Đa số người dân, nhất là người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được đảm bảo ASXH một cách đầy đủ và đa số không có triển vọng được nhận lương hưu khi họ đến tuổi nghỉ hưu. Tác giả Đặng Nguyên Anh (2018) đã nêu quan điểm mới về thực hiện ASXH ở cấp độ gia đình.

Theo tác giả, nghiên cứu ASXH trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải chú ý đến các vấn đề chính sách cũng như thực tiễn ASXH ở cấp độ gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít chính sách ASXH dành riêng cho gia đình (theo nghĩa lấy gia đình là đơn vị thụ hưởng hay can thiệp). Ngoại trừ một số chính sách đối với gia đình có công, hộ nghèo, hộ người dân tộc thiểu số. còn lại hầu hết các chính sách gắn với các thành viên.

Có thể thấy các chính sách xã hội dành cho cá nhân lại khá phổ biến, chẳng hạn: chính sách trợ giúp người cao tuổi, chính sách hỗ trợ người khuyết tật, người có HIV, phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ. Tác giả cho rằng việc thực thi các chính sách hỗ trợ dành riêng cho đối tượng cá nhân góp phần giải quyết những khó khăn chung của gia đình, song nếu chính sách được áp dụng thực hiện ở cấp hộ gia đình thì sẽ phù hợp hơn và đảm bảo tốt hơn sự hòa nhập xã hội, bao trùm xã hội. Một công trình nghiên cứu khá điển hình về lý thuyết là “Hệ thống phúc lợi ở thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội 21 của tác giả Trần Hữu Quang (2009). Công trình này tập trung làm rõ khái niệm phúc lợi xã hội, các khái niệm liên quan cũng như những mô hình về phúc lợi xã hội tại các nước ở châu Âu, châu Á và Việt Nam.

Tác giả nhấn mạnh hệ thống phúc lợi xã hội là hệ thống các định chế, các chính sách và các hoạt động nhằm bảo đảm cho người dân được thụ hưởng một cách thỏa đáng những dịch vụ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất, với mục tiêu làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người. Tóm lược các mô hình an sinh xã hội trên thế giới Đến nay, mô hình ASXH đã phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới với sự kết hợp giữa mô hình Nhà nước xã hội (ở Đức) và mô hình Nhà nước phúc lợi (ở Anh) nêu trên tùy thuộc vào đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ