Đặt vấn đề Nước ta là một trong những nước có ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất so với những ngành còn lại, đặc biệt là chăn nuôi. Chăn nuôi đã và đang có những bước tiến vượt bậc nhờ ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhờ đó nâng cao được nhiều vấn đề như giảm được số lượng nhân công, tăng năng suất sản phẩm và đặc biệt tạo ra nguồn thu nhập cho người chăn nuôi hiệu quả. Người chăn nuôi bắt đầu đầu tư mạnh mẽ những trang thiết bị chăn nuôi hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Để đảm bảo cung cấp đủ lợn giống thì chăn nuôi lợn nái sinh sản giữ vị trí rất quan trọng.
Các trang trại có quy mô lớn hàng trăm, hàng nghìn lợn nái của các doanh nghiệp xuất hiện nhiều. Tuy nhiên đi đôi với đó là những rủi ro không muốn có như việc xuất hiện những bệnh về lợn, giá nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đều tăng cao. Từ đó chi phí sản xuất của người chăn nuôi tăng lên đáng kể. Xuất phát từ thực tiễn, em đã tìm hiểu và được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, em được đi thực tập tốt nghiệp cùng với chuyên đề nghiên cứu: Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái sinh sản tại trại lợn của công ty Ngọc Minh Greenfarm, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Tìm hiểu và thực hiện được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản. - Đánh giá được tình hình lợn nái sinh sản mắc bệnh viêm đường sinh dục. 2 - Điều trị được cho đàn lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục.
Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại. - Xác định được tình hình lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục. - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cần được áp dụng cho đàn lợn để đạt hiệu quả cao. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Xã Nghĩa Đạo là một xã thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 725 ha. Năm 2022 dân số toàn xã là trên 8000 người. - Phía Đông giáp huyện Lương Tài - Bắc Ninh.
- Phía Tây giáp huyện Văn Lâm - Hưng Yên. - Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng - Hải Dương. - Phía Bắc giáp với xã Ninh Xá - Thuận Thành - Bắc Ninh. Xã Nghĩa Đạo là một xã đất chật người đông, với diện tích đó có sự phân bố dân cư chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở trung tâm xã, những nơi xa trung tâm chủ yếu chăn nuôi gia súc và gia cầm.
Đặc biệt là chăn nuôi lợn, điển hình như trang trại của ông Bùi Mạnh Cường, góp phần không nhỏ vào số lượng nhân đàn của xã và góp phần làm tăng GDP của người dân nơi đây, tạo công ăn việc làm cho người lao động và đặc biệt là một cơ sở thực tập uy tín cho sinh viên. * Khí hậu Xã Nghĩa Đạo thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có bốn mùa rõ rệt. Tuy nhiên, chủ yếu, xã này có hai mùa chính. Tổng lượng mưa trung bình là 1331mm, mùa mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm, hướng gió Đông Nam.
Tháng 01 tháng 02 có gió mùa Đông Bắc tăng cường, nên gây mưa phùn và giá rét kéo dài. Cơ sở vật chất Với tổng diện tích gần 25.000m2, trang trại được chia thành khu nhà ở, khu sản xuất, hành chính và bảo vệ. - Trại lợn chia nhỏ ra thành khu bầu và khu đẻ, ở đây hai khu đều hoạt động độc lập, không tiếp xúc với nhau trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo không lây nhiễm chéo cho nhau. Chuồng đẻ gồm 10 chuồng, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 2 chuồng an thai, 4 chuồng cai sữa, 2 chuồng cách li, 10 chuồng thịt và 5 chuồng kho chứa thức ăn hỗn hợp, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu, kho máy phát điện, kho vôi và một số công trình đang được xây dựng khác.
Các hệ thống trang trại được xây dựng khép kín hoàn toàn và đi ra vào phải sát trùng nhằm tránh lây lan dịch bệnh. Ngoài ra trong chuồng được thiết kế thêm một phòng điều khiển để điều khiển quạt, điều khiển cho cám xuống các hộp định lượng và xả cám cho lợn ăn, lắp đặt tủ thuốc, máy xịt áp lực để rửa chuồng …. Các chất thải ở chuồng mang thai sẽ đổ xuống gầm, khi gầm gần đầy các chất thải sẽ được xả xuống khu xử lý chất thải. Tại khu xử lý chất thải phân và nước sẽ được tách riêng, phân được ép thành viên còn nước thải sẽ được đổ xuống bể biogas.
Hệ thống chuồng lợn đẻ của trại gồm 2 dãy chuồng chính, có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng. Dãy chuồng đẻ 1 gồm 46 ô với kích thước mỗi ô là 2,4 m x 1,6 m. Dãy chuồng đẻ 2 gồm 10 ô với kích thước tương tự, bên dưới là 5 ô úm lợn con với kích thước 5 m x 5 m, ô đẻ và ôm úm cách nhau 10m. Dãy chuồng đẻ 1 và hai được ngăn cách nhau bởi một lớp tường.
Trong mỗi dãy được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng. Ngoài ra mỗi dãy còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện. Khoang nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hệ thống lọc 5 trên bể. Nước uống được xả vào 1 bể lọc khác và được khử bằng Cloramin B rồi tiếp tục bơm lên téc cao lợi dụng áp lực nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh.
Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư: Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn. Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông. Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện. Hoạt động sản xuất, kinh doanh Trong quá trình thao tác và thực tập tại trại thì em đưa ra được một số thống kê năng suất của trại trong 3 năm (2020 - 2022) ở bảng 2.1 như sau: Bảng 2.
Tình hình chăn nuôi qua 3 năm 2020 - 2022 Thời gian STT Chỉ tiêu khảo sát Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 (con) (con) (con) 1 Đực giống 8 10 11 2 Nái sinh sản 765 650 450 3 Lợn con 19706 17192 12006 Tổng 20479 17852 12467 Từ bảng 2.1 thấy, cơ cấu đàn lợn, nhưng có sự thay đổi không đồng đều qua ba năm 2020 và 2022. Số lợn đực từ 8 - 11 con để có thể phục vụ đủ công suất lợn nái của trại. Số lượng lợn nái sinh sản năm 2020 là 765 con, năm 2021 giảm xuống 650 con vì trại tiến hành loại thải những nái sinh sản kém bằng nái hậu bị để thay đổi cơ cấu đàn nái, trẻ hóa đàn nái nhằm tăng sản lượng và chất lượng đàn con. Tháng 12 năm 2022 số lượng giảm xuống còn 450 con.
Số lượng lợn nái thì số lượng lợn con cũng giảm theo. 6 * Tổ chức nhân sự Tổ chức nhân sự của trại gồm: - 1 chủ trại - 1 quản lí - 1 bảo vệ - 3 trưởng khu - 15 công nhân - 4 sinh viên thực tập 2. Thuận lợi, khó khăn 2. Thuận lợi - Trang trại nằm gần đường giao thông thuận tiện đi lại, đảm bảo cho quá trình vận chuyển không bị đình trệ.
- Kỹ thuật cá nhân ổn định của các kỹ sư góp phần làm cho năng suất của trại tăng trưởng. - Xuất bán lợn thuận lợi về giá cả và thị trường nhộn nhịp. - Chuồng trại được xây dựng theo mô hình khép kín và được trang bị các trang thiết bị hiện đại. Hệ thống điện lưới và nước sạch luôn được cung cấp đầy đủ để phục vụ sinh hoạt và chăn nuôi.
- Ngoài ra, trại còn có đội ngũ kỹ thuật với trình độ chuyên môn cao, cùng với đó là những công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Khó khăn - Công nhân không duy trì sự ổn định trong công việc, nghỉ việc giữa chừng cũng là vấn đề gây ảnh hưởng tới năng suất chăn nuôi. - Trong thời gian gần đây, chăn nuôi gặp phải những khó khăn do sự biến đổi phức tạp của thời tiết cùng với tình hình dịch bệnh khó kiểm soát. Vì 7 vậy, cần tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh và cải thiện sức đề kháng cho đàn lợn tại trang trại.
- Khí hậu có mùa hè nóng ẩm, mùa đông lạnh nên dễ ảnh hưởng tới lợn con, gây một số bệnh như tiêu chảy; viêm khớp, viêm phổi. - Giá thức ăn ngày càng tăng nhưng quá trình buôn bán thì bị đình trệ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của trại. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn nái Cơ quan sinh dục lợn nái được chia làm 2 phần: bộ phận bên trong và bên ngoài, (Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [7] ). Bộ phận sinh dục bên ngoài Âm môn (Vulva): còn được biết đến với tên gọi là âm hộ, nằm ở phía dưới của hậu môn. Bên ngoài của âm môn có hai môi, và hai môi này được nối với nhau thông qua hai mép. Phần trên của hai môi âm môn có màu sắc đen, có nhiều tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi.
Âm vật (Clitoris): có hình dạng tương tự như dương vật, nhưng được thu nhỏ lại. Bên trong âm vật có các cấu trúc phụ thuộc. Trên âm vật có một nếp da tạo thành mu âm vật (Praepatium clitoridis). Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis): Tiền đình, còn được gọi là khu vực của hốc âm đạo, là vùng giới hạn giữa hậu môn và âm đạo.
Trong tiền đình, có một màng trinh, với âm môn ở phía trước màng trinh và âm đạo ở phía sau màng trinh. Bộ phận sinh dục bên trong Âm đạo (Vagina): Phía trước của âm đạo là cổ tử cung, trong khi phía sau là tiền đình có màng trinh che phủ lỗ âm đạo.