CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số tư liệu về loài chó Chó nhà là họ hàng của chó sói, đã từng sống hoang dã ở khắp Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ. Không một ai biết con người đã sống cùng với chó từ khi nào; có lẽ con người đã sống với chó ít nhất cũng 10 nghìn năm. Một số giống chó nuôi ở Việt Nam - Giống chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55cm, nặng 12 - 15kg, là giống chó săn được nuôi để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm.
Chó đực phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản được ở độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con. - Giống chó H'Mông: sống ở miền núi cao, được dùng giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg.
Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con. Giống chó này thường được sử dụng để giữ nhà và săn thú (Nguyễn Văn Thanh và cs. - Giống chó Phú Quốc: Đây là loài chó quý của Việt Nam, lông màu nâu xám, bụng thon, trên lưng lông mọc có hình xoắn, hay lật theo kiểu rẽ "ngôi", lông vàng xám có các đường kẻ chạy dọc theo thân, tầm vóc tương tự chó Lào.
Chó cao 60 - 65cm; nặng 20 - 25kg. Chó đực phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 6 con, trung bình 5 con (Nguyễn Văn Thanh và cs.
Một số giống chó nhập ngoại - Giống chó Bergie Đức Chó becgie Đức có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó nước ta, dài 110 - 112cm, cao từ 56 - 65cm đối với chó đực và từ 62 - 66cm đối với chó cái; trọng lượng từ 28 - 37kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và 4 mõm, đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân thuỳ, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít. Cổ chắc xiên đến vạch lưng; lưng chắc rộng có độ dốc về phía sau; bụng thon thẳng, đuôi dài hình lưỡi kiếm.
Các chi có cơ gân chắc khoẻ, chân trước thẳng đứng, chân sau đứng hơi choãi về phía sau, khoeo chân sau giống khoeo mèo. ở điều kiện Việt Nam chó Bergie Đức có thể phối giống ở độ tuổi 24 tháng; chó cái có thể sinh sản 18 - 20 tháng (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992; Phạm Sỹ Lăng và cs. - Giống chó Doberman Chó có nguồn gốc từ Đức được phát hiện ra vào năm 1866 và được nhập vào nước ta nuôi với mục đích để canh gác, tìm kiếm và làm cảnh. Chó có tầm vóc trung bình, cao 65 - 69cm, dài 110 - 112cm; nặng 30 - 33kg.
Chó có bộ lông ngắn đen sẫm gần như toàn thân; mõm, ngực, 4 chân có màu vàng sẫm. Có đầu hình nêm, hơi thô, mũi rộng mắt đen, hàm răng chắc, cắn khít; cổ to khoẻ; ngực nở, bụng thon; cơ chi chắc khoẻ, đuôi ngắn (Nguyễn Văn Thanh và cs. Chó thuộc loại hình thần kinh ổn định, thông minh, can đảm, lanh lợi; khéo léo và đặc biệt dễ huấn luyện. - Giống chó Rottweiler Rottweiler còn có tên gọi khác là Rottweiler Metzgerhund, có nguồn gốc từ thành phố nhỏ Rottweiler của nước Đức (Nguyễn Văn Thanh và cs.
Được phát hiện năm 1800 và được sử dụng chủ yếu vào việc chăn giữ gia súc và bảo vệ tài sản; ngày nay nó được sử dụng trong trinh sát trong lực lượng cảnh sát và bộ đội biên phòng. Chó có tầm vóc lớn, cao 68cm; nặng 42kg; lông ngắn đen toàn thân, mõm bụng và bốn chân vàng sẫm; bốn chân vững chắc, đầu to không dài, hai mắt sáng, khoảng cách 2 mắt không xa. Ngoài ra còn có rất nhiều các giống chó khác như: chó lai Becgie, Bắc Kinh, Tây Ban Nha, Bulldog, Bully, Alaska, Husky… 5 1. Phân loại vi rút gây bệnh Care Bệnh Care do Canine distemper vi rút (CDV) gây ra.
CDV thuộc họ Paramixoviridae, giống Morbillivirus, chúng có mối liên quan gần gũi về tính kháng nguyên và sinh lý với vi rút sởi của người và vi rút dịch tả trâu bò của loài nhai lại (Nguyễn Thị Lan và cs. Morbillivirus là một vi rút tương đối lớn (đường kính 150 - 250nm) với cấu trúc xoắn ốc, nhân là một ARN sợi đơn, có một lớp vỏ lipoprotein (Kennedy và cs. Vi rút Care chỉ có một serotype duy nhất nhưng có nhiều chủng được phân lập ở nhiều khu vực địa lý khác nhau trên thế giới và có những đặc trưng riêng (Lê Thị Tài, 2006). Trên thế giới có 5 type vi rút lớn, phân lập tại những vùng địa lý khác nhau và đặc tính cơ bản khác nhau là: type Châu Âu, cổ điển (classic type), Asia 1, Asia 2 và USA.
Chủng gây bệnh tiêu chuẩn là chủng Snyderhill thuộc type cổ điển. Viện thú y Việt Nam hiện đang sử dụng chủng này để công cường độc, kiểm nghiệm hiệu lực của vắc xin phòng bệnh Care ở chó (Lê Thị Tài, 2006). Chủng CDV được sử dụng để sản xuất vắc xin phòng bệnh ở Việt Nam cũng thuộc type cổ điển. Chia làm hai nhóm: + Nhóm có độc lực cao tiêu biểu là chủng Rockborn.
+ Nhóm có độc lực tiêu biểu là chủng Onderstepoort, Lederles. Hình thái, cấu trúc vi rút gây bệnh Care - Hình thái của vi rút quan sát được thấy có hình vòng tròn, hình bán nguyệt do các sợi cuộn quanh tròn mà thành. Dạng tròn này có đường kính đo được 115nm đến 230nm. Màng cuộn kép có độ dày 75Ao - 85Ao với bề mặt phủ các sợi xoắn ốc từ bên trong ra, không ngưng kết hồng cầu (David T.
6 - Cấu trúc: Nucleocapside chứa ARN một sợi không phân đoạn gần 1600 nuleotide mã hoá thành 6 protein cấu trúc và 1 protein không cấu trúc (C) (Diallo, 1990). N: Nucleocapsid, khối lượng phân tử 60 - 62 Kda bao quanh và phòng vệ cho hệ gen của vi rút, nhạy cảm với những chất phân giải Protein. P: Phosphoprotein, khối lượng phân tử 73 - 80 Kda nhạy cảm với những yếu tố phân giải protein, đóng vai trò quan trọng trong sự sao chép của RNA. M: Matrix, khối lượng phân tử 34 - 39 Kda, đóng vai trò quan trọng trong sự trưởng thành của vi rút và nối nucleocapsid với những protein vỏ bọc.
F: Fusion là glycoprotein trên bề mặt của vỏ bọc, khối lượng phân tử 59 - 62 Kda, đóng vai trò trong sự kết hợp vi rút với thụ thể màng tế bào, dẫn đến kết hợp nhiều tế bào cảm nhiễm (hợp bào). H: Protein ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin) hay yếu tố kết dính, là glycoprotein thứ hai của vỏ bọc, khối lượng phân tử 76 - 80 Kda, thể hiện tính chuyên biệt của loài vi rút. Ở vi rút Care, protein này không hấp phụ hồng cầu cũng không ngưng kết hồng cầu. L: Large protein có khối lượng phân tử lớn 200 Kda, chưa rõ chức năng.
Sức đề kháng của vi rút gây bệnh Care Vi rút Care là một vi rút không ổn định và nhạy cảm với nhiệt độ, tia UV, dung môi hòa tan lipit, chất tẩy rửa và chất oxy hóa (Gröne và cs., 1998) mặc dù nó có vỏ bọc protein chống lại sự vô hoạt của các tác nhân bên ngoài. Vi rút Care rất dễ bị phá hủy, dễ bị vô hoạt ở môi trường ngoài, vì vậy việc lây gián tiếp là rất hiếm gặp. Năm 1954, Celiker và Gillespie dùng vi rút sài sốt chó thích nghi trên môi trường phôi trứng để nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến tính cảm nhiễm của vi rút và các tác giả thấy: Vi rút Care cực kỳ mẫn cảm với sức nóng. Vi rút bị phá hủy ở 50 - 60oC trong 30 phút nhưng vi rút có thể tồn tại trong 48 giờ ở 25oC và 14 ngày ở 5oC (Shen, Gorham, 1980).
Cấu trúc của vi rút Care Nguồn: Greene và cs. (2006) Ở điều kiện (0 - 4oC), vi rút có thể tồn tại trong điều kiện môi trường trong vòng một tuần. Trong mô cô lập nó tồn tại được ít nhất một giờ ở 37oC và 3 giờ ở 20oC (nhiệt độ phòng). Thời tiết ấm áp vi rút không thể tồn tại lâu trong chuồng nuôi chó sau khi chó bị bệnh được chuyển đi.
Thời gian sống và duy trì độc lực của vi rút sẽ lớn hơn trong điều kiện nhiệt độ lạnh. Ở nhiệt độ đóng băng (0oC) nó có thể tồn tại trong môi trường hàng tuần. Dưới nhiệt độ đóng băng vi rút được ổn định. Vi rút tồn tại được ở nhiệt độ - 65oC ít nhất là 7 năm.
Việc bảo quản vi rút ở dạng đông khô có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo quản giống vi rút, sản xuất vắc xin và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Greene và cs. Độ pH: VR ổn định ở pH = 4,5 - 9. Vi rút bị ảnh hưởng với pH trên 10,4 hoặc dưới 4,4 (Greene và cs. Vỏ bọc của vi rút rất mẫn cảm với ete, clorofor, fomalin loãng (<0,5%), phenol (75%), dung dịch amoni.
Do vậy, khi dùng những chất này để tiêu độc chuồng và bệnh viện mang lại hiệu quả cao (Greene và cs. Đặc tính nuôi cấy Có thể nuôi cấy CDV trên phôi gà, trên môi trường tế bào thận chó, môi trường tế bào thận khỉ và trên chồn (McCarthy và cs. Độc lực của vi rút Độc lực của vi rút là một thông số gây nhiều ảnh hưởng tới khả năng cảm nhiễm bệnh. Các nhà khoa học đã phân lập được chủng SH, A75/17 và chủng R252 có độc lực cao và vừa, đầu tiên gây viêm não tủy tiếp đó gây hủy myetin (vỏ bọc trên sợi trục của tế bào thần kinh).
Cơ chế sinh bệnh Theo các kết quả nghiên cứu của Appel (1969), Appel (1978), Appel (1987), Appel và Summer (1995) đã chỉ ra cơ chế sinh bệnh của vi rút Care gồm: Vi rút gây bệnh Care là vi rút gây nhiễm hướng lympho, niêm mạc và mô thần kinh. Đầu tiên, vi rút nhân lên ở mô lympho của hệ hô hấp, sau đó vi rút nhiễm vào các dịch bạch huyết rồi vào máu gây bại huyết. Tại đây, vi rút tác động đến nội mạc mạch máu và gây sốt, cơn sốt kéo dài từ 1 - 2 ngày. Vi rút theo máu vào hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu và hệ thống thần kinh trung ương cũng như thần kinh mắt.