Bất Thường Nhiễm Sắc Thể và Tác Động Đến Thai Nhi

Tìm hiểu mối liên quan giữa rối loạn nhiễm sắc thể và bất thường thai nhi phát hiện qua siêu âm, giúp nâng cao nhận thức và chăm sóc sức khỏe.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm bộ NST người

1.2. Bất thường NST

1.2.1. Bất thường về số lượng NST

1.2.2. Các DTBS do bất thường đa bội

1.2.3. Các DTBS do bất thường lệch bội

1.2.4. Các DTBS do bất thường cấu trúc NST

1.2.5. Thể khảm

1.3. SA hình thái thai nhi bình thường

1.3.1. Kỹ thuật SA

1.3.2. Các đường cắt ngang

1.3.3. Các đường cắt dọc

1.3.4. Các đường cắt trực diện

1.4. Chẩn đoán các DTBS bằng SA

1.4.1. Thời điểm SA

1.4.2. SA chẩn đoán các DTBS của ống thần kinh

1.4.3. SA chẩn đoán các DTBS vùng cổ và ngực

1.4.4. SA chẩn đoán các DTBS của tim

1.4.5. SA chẩn đoán các DTBS ở mặt

1.4.6. SA chẩn đoán các dị tật thành bụng trước

1.4.7. SA chẩn đoán các bất thường của hệ thống xương khớp

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bất Thường Nhiễm Sắc Thể và Thai Nhi

Bất thường nhiễm sắc thể (NST) là một vấn đề nghiêm trọng trong y học, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Các bất thường này có thể là do số lượng hoặc cấu trúc NST không bình thường, dẫn đến nhiều hệ lụy cho sức khỏe của trẻ. Việc chẩn đoán sớm các bất thường này là rất quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

1.1. Định Nghĩa và Phân Loại Bất Thường Nhiễm Sắc Thể

Bất thường NST được chia thành ba nhóm chính: bất thường về số lượng, bất thường về cấu trúc và thể khảm. Mỗi loại có những đặc điểm riêng và ảnh hưởng khác nhau đến thai nhi.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Chẩn Đoán Sớm

Chẩn đoán sớm các bất thường NST giúp giảm thiểu nguy cơ dị tật bẩm sinh và tử vong chu sinh. Siêu âm và các phương pháp xét nghiệm di truyền là những công cụ hữu hiệu trong việc phát hiện sớm.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Chẩn Đoán Bất Thường Nhiễm Sắc Thể

Việc chẩn đoán bất thường NST gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của thai kỳ. Các phương pháp hiện tại như siêu âm và xét nghiệm di truyền có thể không phát hiện được tất cả các bất thường, dẫn đến việc bỏ sót các trường hợp nghiêm trọng.

2.1. Những Khó Khăn Trong Việc Phát Hiện Bất Thường

Nhiều bất thường NST không có biểu hiện rõ ràng trong giai đoạn đầu của thai kỳ, khiến cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn. Điều này đòi hỏi các bác sĩ phải có kinh nghiệm và sử dụng các công nghệ hiện đại.

2.2. Tác Động Tâm Lý Đến Gia Đình

Khi phát hiện bất thường NST, gia đình thường phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Việc tư vấn và hỗ trợ tâm lý cho các bậc phụ huynh là rất cần thiết để giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này.

III. Phương Pháp Chẩn Đoán Bất Thường Nhiễm Sắc Thể Trước Sinh

Có nhiều phương pháp chẩn đoán bất thường NST trước sinh, bao gồm siêu âm, chọc hút dịch ối và xét nghiệm di truyền. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng.

3.1. Siêu Âm Trong Chẩn Đoán Bất Thường

Siêu âm là phương pháp phổ biến nhất để phát hiện các bất thường hình thái của thai nhi. Nó giúp bác sĩ quan sát cấu trúc của thai nhi và phát hiện sớm các dị tật.

3.2. Xét Nghiệm Di Truyền Lợi Ích và Hạn Chế

Xét nghiệm di truyền giúp xác định chính xác các bất thường NST. Tuy nhiên, nó cũng có những rủi ro nhất định và cần được thực hiện dưới sự giám sát của bác sĩ chuyên khoa.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chẩn Đoán Bất Thường Nhiễm Sắc Thể

Việc chẩn đoán bất thường NST không chỉ giúp phát hiện sớm các dị tật mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị và can thiệp kịp thời. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sàng lọc trước sinh có thể giảm tỷ lệ trẻ mang dị tật bẩm sinh.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tỷ Lệ Bất Thường

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bất thường NST tăng lên khi có nhiều bất thường hình thái của thai. Việc sàng lọc thường quy giúp phát hiện và can thiệp kịp thời.

4.2. Các Kỹ Thuật Hiện Đại Trong Chẩn Đoán

Sử dụng các công nghệ như siêu âm 3D, 4D đã giúp cải thiện khả năng phát hiện các bất thường hình thái của thai nhi, từ đó nâng cao hiệu quả chẩn đoán.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Bất Thường Nhiễm Sắc Thể

Nghiên cứu về bất thường NST đang ngày càng được chú trọng, với nhiều tiến bộ trong công nghệ chẩn đoán. Tương lai hứa hẹn sẽ có nhiều phương pháp mới giúp phát hiện và điều trị hiệu quả hơn.

5.1. Xu Hướng Nghiên Cứu Mới

Các nghiên cứu hiện tại đang tập trung vào việc phát triển các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, giúp giảm thiểu rủi ro cho thai nhi.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục và Tư Vấn

Giáo dục và tư vấn cho các bậc phụ huynh về bất thường NST là rất quan trọng, giúp họ hiểu rõ hơn về các nguy cơ và lựa chọn điều trị phù hợp.

22/06/2025
Tìm hiểu mối liên quan giữa những rối loạn nst và một số bất thường của thai phát hiện được bằng sa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm bộ NST người Bình thường số lượng NST ở người có 46 chiếc, trong đó 44 NST thường và 2 NST giới tính, được xếp thành 23 cặp và 7 nhóm [12]. Tiêu chuẩn để xếp bộ NST người Hội nghị ở Chicago nước Mỹ năm 1966 các nhà di truyền học đưa ra 3 tiêu chuẩn sau để xếp bộ NST người: - Kích thước của NST: chiều dài của NST giảm dần từ đôi số 1 đến đôi số 22, cặp số 23 là cặp NST giới tính. - Chỉ số tâm: Chỉ số tâm = Chiều dài cánh ngắn = p p: là chiều dài nhánh ngắn của NST q: là chiều dài nhánh dài của NST - Chiều dài tương đối của NST: đó là tỷ lệ giữa chiều dài của một NST nào đó so với chiều dài tổng cộng của bộ NST đơn bội có chứa NST X, tính theo phần nghìn trên cùng một tế bào.

Ở tế bào Soma người có 46 NST, chia thành 3 nhóm căn cứ vào vị trí của phần tâm: + Nhóm tâm giữa: p = q + Nhóm tâm lệch: p < q + Nhóm tâm đầu: chiều dài nhánh ngắn rất ngắn [2]. Các quy định quốc tế về xếp bộ NST người Tại hội nghị ở Chicago (1966) các nhà di truyền tế bào học đã thống nhất với nhau về xếp bộ NST người thành 7 nhóm, ký hiệu là A; B; C; D; E; F và G theo 3 tiêu chuẩn: kích thước NST, chỉ số tâm NST và chiều dài tương đối của NST [2]. Nhóm A: có 3 cặp NST kích thước lớn nhất, gọi tên từ số 1 đến số 3. Cặp số 1 tâm giữa, cặp số 2 tâm lệch, cặp số 3 tâm giữa.

Nhóm B : có 2 cặp NST số 4 và số 5, kích thước lớn và không phân biệt được chiều dài. Đều là tâm lệch. Nhóm C : có 7 cặp NST, từ số 6 đến số 12, có chiều dài trung bình. NST X cũng được xếp vào nhóm này.

Đều tâm lệch, khó phân biệt giữa chúng với nhau. Nhóm D : có 3 cặp NST 13, 14 và 15. Kích thước trung bình và đều là tâm đầu, có vệ tinh gắn với nhánh ngắn. Khó phân biệt giữa chúng với nhau.

Nhóm E : có 3 cặp NST 16, 17 và 18, tương đối ngắn. NST số 16 tâm giữa, số 17 và 18 tâm lệch. Nhóm F : có 2 cặp NST số 19 và 20. Kích thước ngắn và đều tâm giữa.

Nhóm G: có 2 cặp NST 21 và 22. Kích thước ngắn, đều tâm đầu và có vệ tinh. NST Y thuộc nhóm này và NST Y không có vệ tinh 1. Bất thường NST Bất thường NST được chia làm 3 nhóm: bất thường về số lượng NST, bất thường về cấu trúc NST và thể khảm [4].Bất thường về số lượng NST Đột biến số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (popyploidy) và lệch bội (aneuploidy) [2].

Cơ chế gây ra lệch bội là do giảm phân tạo ra giao tử bất 5 thường: n+1 (24 NST) hoặc: n-1 (22 NST). Một giao tử bất thường khi thụ tinh sẽ tạo thành một hợp tử bất thường, có thể bất thường ở NST thường hoặc NST giới tính [12].  Các DTBS do bất thường đa bội: Cơ chế đa bội: có 4 cơ chế có thể dẫn đến hiện tượng đa bội [2] - Thụ tinh của các giao tử bất thường: bình thường, sau 2 lần phân chia của quá trình giảm phân, mỗi giao tử được tạo thành chứa bộ NST đơn bội (n). Đôi khi, vì một nguyên nhân nào đó, các NST không phân ly, cả 2 bộ NST đi vào một giao tử, tạo nên giao tử bất thường chứa 2n NST.

- Thụ tinh của một giao tử bình thường (n) với một giao tử bất thường (2n) tạo hợp tử tam bội (3n). - Thụ tinh của 2 giao tử bất thường (2n) tạo hợp tử tứ bội (4n). - Sự phân chia bất thường của hợp tử: đôi khi trong các lần phân chia sớm, bộ NST 2n của hợp tử nhân đôi nhưng tế bào chất không phân chia theo nên hình thành các tế bào 4n, sau đó các tế bào này tiếp tục phân chia tạo nên các phôi bào 4n, phôi bào phát triển thành cơ thể tứ bội (4n). Trong các lần phân chia sớm của hợp tử 2n có sự phân chia không đồng đều NST tạo thành phôi bào có 1n NST và phôi bào 3n NST.

Phôi bào có 1n NST bị tiêu vong còn phôi bào 3n NST phát triển thành cơ thể tam bội [2]. Các thể đa bội - Thể tam bội (triploid): 3n = 69 NST, có thể do cực cầu hoà nhập với noãn, một noãn thụ tinh với 2 tinh trùng hoặc thụ tinh với 1 tinh trùng 2 đầu [12]. Theo Huang, tỷ lệ tam bội thể là 0,37%oo [44]. - Thể tứ bội: 4n = 92 NST, hay gặp trong các túi thai rỗng.

Ngày nay nguyên nhân gây ra thể tam bội, tứ bội còn do tiến hành ICSI hoặc IVF ở các trường hợp thiểu năng tinh trùng và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác, cũng như sử dụng thuốc phóng noãn [43]. 6  Các DTBS do bất thường lệch bội. Cơ chế gây lệch bội : trong quá trình giảm phân, nếu có một cặp NST nào không phân ly mà cùng đi vào một giao tử sẽ tạo thành các giao tử lệch bội: có giao tử thừa một NST, có giao tử thiếu một NST. Các giao tử lệch bội khi thụ tinh sẽ hình thành hợp tử lệch bội.

Hiện tượng không phân ly trong quá trình giảm phân có thể xảy ra trong quá trình tạo tinh hoặc tạo trứng, xảy ra ở lần phân bào thứ nhất hoặc thứ hai, có thể xảy ra với NST thường hoặc NST giới tính [2]. Các thể lệch bội Hình 1.1 Karotype 47,XY,+21 - Hội chứng Down hay hội chứng 3 NST 21 (trisomy 21): là loại bất thường số lượng NST hay gặp nhất với tần suất là 1/700 trẻ sống, tỷ lệ theo giới là 3 nam/2 nữ. Hội chứng Down thường liên quan đến tuổi mẹ, tuổi mẹ càng cao thì tỷ lệ sinh con mắc hội chứng Down càng nhiều [11]. - Hội chứng Edwards hay hội chứng 3 NST 18 (trisomy 18): tần suất hội chứng này là 1/4.

Trong 100 trẻ bị hội chứng Edwards thì 80% là 3 NST 18 thuần, 10% là thể khảm và 10% là do chuyển đoạn [12].2 Karotype 47,XY,+18 Hình 1. Karotype: 47, XY, +13 7 - Hội chứng Patau hay hội chứng 3 NST 13 (trisomy 13): tần suất 1/5.000 lần sinh, 80% thể thuần, 20% thể khảm, gặp ở nữ nhiều hơn nam [20]. - Hội chứng Klinefelter: là dạng lệch bội thể 3 nhiễm hoặc 4 nhiễm thuộc cặp NST giới tính XY (47, XXY; 48, XXXY). Đặc điểm là vô sinh nam, teo tinh hoàn, thoái hoá ống sinh tinh, nam vú to.

Tần suất là 1,8/1.000 trẻ sơ sinh nam [4].5 Karyotype: 47, XXY Karyotype: 47, XYY - Hội chứng 3 NST X: do lệch bội dạng thể 3 nhiễm thuộc cặp NST giới tính XX (47, XXX). Biểu hiện lâm sàng thường là kinh nguyệt ít, mãn kinh sớm, có thể bị thiểu năng trí tuệ. Tần suất gặp 0,8/1. - Hội chứng Turner hay hội chứng 1 NST giới tính X (45, XO).

Lệch bội thuần 57%. Do bất thường cấu trúc 1 NST X như mất đoạn X, NST toàn nhánh ngắn hoặc nhánh dài ( Xp-, Xq-, ….) là 27%, các trường hợp khảm 16%. Tần suất gặp là 0,4/1. Các DTBS do bất thường cấu trúc NST Bất thường cấu trúc NST là do chất liệu di truyền của NST bị mất một phần, thừa một phần hoặc chuyển một đoạn sang NST khác.

8 - Đứt đoạn NST: đứt đoạn NST số 5 gây hội chứng mèo kêu. Trẻ bị tật này có đầu nhỏ, thiểu năng trí tuệ, tiếng kêu như tiếng mèo [3]. - NST vòng: khi một NST mất đoạn ở cả hai đầu và hai đầu còn lại dính vào nhau tạo ra một vòng NST: hội chứng Turner, 3 NST 18. - Chuyển đoạn: đoạn NST bị mất nối trở lại vào một NST khác, do đó chất liệu di truyền vẫn đủ nhưng khi tạo giao tử thì có bất thường và gây bệnh cho con.

Thường gặp trong hội chứng Down. - Đảo đoạn: một đoạn NST bị đảo ngược thứ tự. Đảo đoạn quanh tâm có thể gặp trong hội trứng Down. Thể khảm Khảm là trường hợp một người có ít nhất hai dòng tế bào cùng tồn tại theo một tỷ lệ nào đó.

Thường gặp trong các hội chứng Down, hội chứng Turner, hội chứng Klinefelter [12]. SA hình thái thai nhi bình thường 1. Kỹ thuật SA - Quan sát toàn bộ thai nhi theo một trình tự nhất định lần lượt từ phần đầu, ngực, bụng, các chi, cấu trúc các cơ quan như não, tim, các tạng trong ổ bụng, các chi, phần phụ của thai và kết thúc bằng chức năng tuần hoàn của thai. - Có 3 đường cắt cơ bản để quan sát hình thái của thai: đường cắt ngang, đường cắt dọc và đường cắt trực diện.

Các đường cắt ngang  Các đường cắt ngang qua đầu thai nhi - Đường cắt ngang đầu cao: hình ảnh của đường giữa là một đường liên tục, thành của não thất bên là những cấu trúc âm vang đậm đặc nằm ở 2 bên và song song với đường giữa. 9 - Đường cắt ngang đầu trung bình hay còn gọi là đường cắt qua đồi thị: đây được coi là đường cắt cơ bản nhất và quan trọng nhất trong những đường cắt SA của đầu thai nhi. Hình ảnh SA chúng ta nhìn thấy là đường giữa bị chia làm 3 đoạn bởi phía trước là vách trong suốt(có hình vuông) và ở giữa là Hình: 1.6 2 đồi thị nằm cân xứng 2 bên. Ngoài ra còn quan sát thấy Cắt ngang đầu các thành phần của hố sau đó là: tiểu não, thùy nhộng và trung bình bể lớn của hố sau.

- Đường cắt ngang đầu thấp: đây là đường cắt ngang qua nền sọ, hình ảnh SA của các xương của nền sọ đó là phía trước là xương bướm, phía sau là 2 xương đá.  Các đường cắt ngang qua bụng thai nhi Đường cắt ngang qua bụng thai nhi là rất nhiều, lần lượt từ trên cao dưới vòm hoành xuống tới tận khung chậu của thai nhi, tương ứng với từng đường cắt chúng ta lần lượt quan sát sự xuất hiện của các tạng của thai, qua đó đánh giá được vị trí và sự liên Hình: 1.7 Đường cắt ngang quan bình thường và bất thường của chúng. Đường bụng trung bình cắt ngang bụng quan trọng nhất là đường cắt để đo đường kính ngang bụng và chu vi bụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ