Chương 1. Cơ sở lý thuyết các vấn đề trong luận án. Tổng quan nghiên cứu về bất bình đẳng trong sử dụng dịch vụ y tế ở người cao tuổi. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
Thực trạng và các yếu tố tác động đến tình trạng bất bình đẳng trong sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi. Kết quả nghiên cứu chính của luận án và các khuyến nghị chính sách. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRONG LUẬN ÁN 1. Cơ sở lý thuyết liên quan đến dịch vụ y tế 1.
Khái niệm về dịch vụ y tế Khác với các loại hình dịch vụ khác trên thị trường, dịch vụ y tế (DVYT) là một loại dịch vụ đặc biệt bởi DVYT gắn liền với sức khoẻ và tính mạng của con người (Scott, R. và cộng sự, 2001). Theo đó, DVYT gồm những dịch vụ điều trị bệnh tật, dự phòng bệnh tật, duy trì và phục hồi sức khoẻ của con người và cộng đồng. Khi xem xét đến đối tượng người cao tuổi, DVYT dành cho người cao tuổi là các dịch vụ điều trị và chăm sóc sức khoẻ chuyên biệt nhằm đáp ứng nhu cầu đặc biệt cho nhóm dân số này.
DVYT nói chung, cũng như DVYT dành cho người cao tuổi nói riêng, thường được cung cấp bởi các cơ sở y tế và người có chuyên môn về y tế, ví dụ như bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, bệnh viện, phòng khám chuyên khoa, trung tâm y tế, và trạm y tế. Tại Việt Nam, xét theo đặc điểm của DVYT, DVYT dành cho người cao tuổi có thể được phân loại thành một số nhóm chính, bao gồm: (1) Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu: Các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ kiểm tra sức khoẻ định kỳ, quản lý tình trạng bệnh lý mạn tính, theo dõi việc sử dụng thuốc, và điều phối việc chăm sóc chuyên khoa khác nhau dựa trên tình trạng sức khoẻ của người cao tuổi (Scott, R. và cộng sự, 2001; Castro, A. và cộng sự, 2018).
(2) Dịch vụ chăm sóc dự phòng: Các dịch vụ dự phòng cho người cao tuổi bao gồm tiêm chủng, truyền thông, giáo dục sức khoẻ, tư vấn về lựa chọn lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng bệnh lý của người cao tuổi (Takahashi, P. và cộng sự, 2004; Tazkarji, B. và cộng sự, 2016). (3) Dịch vụ y tế chuyên khoa lão khoa: Tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh lý của người cao tuổi mà họ có thể cần sự chăm sóc y tế chuyên biệt từ nhân viên y tế có chuyên môn về lão khoa, như bác sĩ lão khoa, bác sĩ thần kinh, bác sĩ tim mạch và bác sĩ ung thư (Ko, F.
và cộng sự, 2022). Việc quản lý bệnh mạn tính rất quan trọng nhằm giảm thiểu các triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng, và cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Ngoài ra, việc quản lý bệnh mạn tính còn là theo dõi các tương tác tiềm ẩn có thể xảy ra khi người cao tuổi sử dụng nhiều loại thuốc và tác động của những tương tác tiềm ẩn này lên khả năng vận động của người cao tuổi (Chodosh, J. và cộng sự, 2005; Kim, J.
9 (5) Quản lý chống té ngã: Té ngã là vấn đề rất phổ biến thường gặp ở người cao tuổi. Ngã có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, có thể dẫn đến thương tích, mất khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống giảm sút (Hill, K. Hệ thống y tế và xã hội (gồm điều dưỡng, bác sĩ, dược sĩ, nhà vật lý trị liệu, gia đình và chính người cao tuổi) quản lý phòng ngừa té ngã giúp xác định và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ liên quan đến té ngã ở người cao tuổi. (6) Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà: Nhiều hệ thống y tế trong khu vực và trên thế giới (như Thái Lan, Hàn Quốc, Úc, Phi-lip-pin) đã phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà định hướng chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi nhằm chuẩn bị cho mục tiêu già hoá khoẻ mạnh khi dân số của các quốc gia này đang già hoá nhanh.
Tại Việt Nam, hình thức dịch vụ này chưa phổ biến (Brody, E. và cộng sự, 2001). (7) Dịch vụ phục hồi chức năng: Chức năng thể chất và nhận thức của người cao tuổi thường bị giảm sút do tuổi cao hoặc do các tác động trong quá trình sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ thường gặp như người cao tuổi thường mắc chứng mất trí nhớ, sa sút trí tuệ, gặp khó khăn trong đi lại/vận động, giảm thị giác/thính giác và té ngã.
Do vậy, các dịch vụ phục hồi chức năng thường được các bác sĩ chỉ định cho người bệnh cao tuổi nhằm hỗ trợ chuyên sâu, giúp người cao tuổi cải thiện tình trạng sức khoẻ và sự chủ động trong cuộc sống của họ (Stott, D. Khi xem xét đến hình thức cung ứng DVYT tại các cơ sở y tế, các DVYT có thể được phân loại thành hai nhóm, đó là DVYT nội trú và DVYT ngoại trú. (1) DVYT nội trú: Theo Điều 77, Luật khám bệnh, chữa bệnh cập nhật năm 2023 (Quốc Hội Việt Nam, 2023), điều trị nội trú được áp dụng đối với những trường hợp người bệnh phải lưu lại cơ sở y tế để thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ. Những trường hợp như chuyển khoa và chuyển viện vẫn được tính là điều trị nội trú.
Như vậy, tất cả DVYT được thực hiện trong quá trình điều trị nội trú được gọi là DVYT nội trú. (2) DVYT ngoại trú: Theo Điều 76, Luật khám bệnh, chữa bệnh cập nhật năm 2023 (Quốc Hội Việt Nam, 2023), điều trị ngoại trú được áp dụng đối với những trường hợp không phải là điều trị nội trú, được thực hiện tại các cơ sở y tế. Hai hình thức DVYT này (DVYT nội trú và DVYT ngoại trú) sẽ được sử dụng trong các phân tích trong luận án này. Mô hình lý thuyết về việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế 10 Việc quyết định sử dụng DVYT không chỉ đơn giản là do người bệnh có bệnh nên mới đi khám, chữa bệnh mà là kết quả cuối cùng sau khi nhu cầu về điều trị, CSSK.
Nghĩa là, bên cạnh vấn đề về sức khoẻ mà người bệnh đang mắc hoặc đang quan tâm, việc họ quyết định sử dụng DVYT được tạo ra dựa trên tổ hợp các yếu tố kinh tế - xã hội xung quanh họ (Aday và Andersen, 1974). Mô hình Andersen&Newman được xây dựng lần đầu tiên vào những năm 1960 và đã trải qua bốn giai đoạn phát triển (Andersen, R. Mô hình lý thuyết Andersen&Newman giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận và sử dụng DVYT và từ đó phát triển một mô hình hành vi cung cấp các biện pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận và sử dụng DVYT của nhóm đối tượng được nghiên cứu. Mô hình lý thuyết về sử dụng DVYT của Andersen được áp dụng để tìm hiểu các yếu tố quyết định việc sử dụng DVYT của các nhóm dân số, đánh giá tình trạng bất bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng DVYT và là cơ sở lý thuyết cho hoạch định chính sách nhằm tăng tính công bằng trong tiếp cận và sử dụng DVYT (Chen, C.
Theo mô hình lý thuyết này, khả năng sử dụng DVYT của một cá nhân không chỉ nằm ở nhu cầu khám, chữa bệnh, CSSK của cá nhân đó mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như khả năng chi trả cho DVYT, niềm tin/kiến thức/khả năng nhận thức của người bệnh, tuổi và giới tính của người bệnh, cơ sở hạ tầng của cơ sở y tế… (Andersen, R. Nghiên cứu của Andersen, R. (2005) chỉ ra ba nhóm các yếu tố quyết định khả năng tiếp cận và sử dụng DVYT của người bệnh, đó là: Các yếu tố nhân khẩu và xã hội: Bao gồm các đặc điểm văn hoá - xã hội của cá nhân đó. Các đặc điểm này xuất hiện từ trước khi người bệnh có bệnh và thường được xây dựng trong một khoảng thời gian dài trước đó: Cấu trúc xã hội: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, văn hoá, sự tương tác xã hội của người bệnh.
Hành vi sức khoẻ, niềm tin vào y tế, CSSK: Thái độ, kiến thức, nhận thức của người bệnh về sức khoẻ và hệ thống y tế có thể ảnh hưởng đến nhìn nhận của người bệnh về việc cần và sử dụng DVYT. Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi và giới tính. Các yếu tố môi trường: Đây là khía cạnh giúp việc sử dụng DVYT diễn ra. Cá nhân/Gia đình: Phương tiện người bệnh dùng để đến cơ sở y tế, khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế, thu nhập của người bệnh, tình trạng sử dụng 11 thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ (tài chính và phi tài chính) từ phía gia đình, sự tham gia các hoạt động xã hội của người bệnh.
Cơ sở y tế: Sự đa dạng và khả năng cung ứng DVYT của cơ sở y tế, sự sẵn có trang thiết bị y tế và nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên…) khi chẩn đoán và khám, chữa bệnh cho người bệnh. Một số yếu tố khác: Yếu tố về gen di truyền, tâm lý người bệnh… Các yếu tố thể hiện nhu cầu về sức khoẻ: Bao gồm nguyên nhân về sức khoẻ dẫn đến việc sử dụng DVYT. Ví dụ: người bệnh gặp vấn đề về thực thể hoặc tâm lý sẽ là nguyên nhân trực tiếp tạo ra nhu cầu sử dụng DVYT. Từ mô tả trên, luận án mô hình hoá mô hình lý thuyết Andersen, R.
(2005) thông qua Hình 1.1: Mô hình Andersen&Newman (2005) về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Andersen, R. (2005) Từ khi mô hình Andersen được công bố đến nay, rất nhiều nghiên cứu gốc cũng như nghiên cứu tổng quan hệ thống về hành vi sử dụng DVYT trên thế giới và bất bình đẳng trong sử dụng DVYT đã áp dụng mô hình này làm khung lý thuyết cho công trình nghiên cứu của họ (ví dụ, xem Azfredrick, 2016; Babitsch và cộng sự, 2012, p.; Kim và Lee, 2016; Phillips và cộng sự, 1998; Travers và cộng sự, 2020; Zhang và cộng sự, 2019). Cơ sở lý thuyết về bất bình đẳng 1. Khái niệm về bất bình đẳng 12 Bình đẳng và bất bình đẳng là những thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, y tế, xã hội, chính trị, và pháp luật.
Bình đẳng thể hiện sự công bằng và đồng đều giữa các cá nhân hoặc nhóm dân số trong một quốc gia (Arcaya, M. và cộng sự, 2015).