phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em Chƣơng 2: Thực trạng qui định và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lƣợng thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG ĐỀ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 KHÁI NIỆM TRẺ EM VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM 1. Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em Khái niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế Khái niệm trẻ em đƣợc quốc tế sử dụng và đã đƣợc đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1968, Công ƣớc quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ƣớc quyền trẻ em năm 1989, Công ƣớc 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976 Trong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Liện Hợp Quốc đã công bố rằng trẻ em cần đƣợc chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nƣớc Pháp cũng chƣa đƣa ra khái niệm quyền trẻ em mà mới dừng lại ở việc đề cập đến quyền con ngƣời nói chung. Vấn đề trẻ em chỉ thực sự đƣợc quan tâm từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) với việc các tổ chức cứu trợ trẻ em của Anh và Thụy Điển ra đời vào năm 1919.
Năm 1923 Hiến chƣơng về quyền trẻ em đƣợc thông qua. Ngày 26/09/1924 Hội Quốc liên (tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên cơ sở Hiến chƣơng về quyền trẻ em năm 1923. Kể từ đây, quyền trẻ em đã trở thành một khái niệm đƣợc khẳng định và thừa nhận. Quyền trẻ em quan hệ chặt chẽ với quyền con ngƣời, là một bộ phận của quyền con ngƣời vì trẻ em là con ngƣời, trẻ em là một thành viên của xã hội và đồng thời trẻ em là công dân đặc biệt của một quốc gia.
Vì vậy, có thể khẳng định rằng: ” quyền trẻ em là quyền con người của trẻ em, trẻ em được hưởng các quyền con người” [26, tr. Do vị trí và tính chất đặc biệt của trẻ em, việc bảo vệ quyền trẻ em đã trở thành trách nhiệm cao cả của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Năm 1978 Ba Lan đề xuất là cộng đồng quốc tế phải có một văn kiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc tế hoàn chỉnh, mang đầy đủ tính chất pháp lý làm nền tảng cho việc bảo vệ quyền trẻ em, ràng buộc các quốc gia thành viên vào trách nhiệm cụ thể để thay thế Tuyên ngôn vì Tuyên ngôn không phải là văn bản mang tính ràng buộc và không áp đặt những nghĩa vụ cụ thể nào với các quốc gia thành viên. Việc bảo vệ quyền trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ, một chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế đồng ý.
Đề xuất của Ba Lan đã đƣợc Liên Hợp Quốc chấp thuận và sau 10 năm soạn thảo, Công ƣớc đƣợc Liên Hợp Quốc chính thức thông qua ngày 20/11/1989, ngày 26/01/1990 Công ƣớc đƣợc mở cho các nƣớc ký và phê chuẩn. Tại lễ ký ở Liên hiệp quốc, đại diện 60 nƣớc đã ký vào bản cam kết rằng Chính phủ họ sẽ phê chuẩn phù hợp với Hiến pháp của từng nƣớc. Công ƣớc có hiệu lực quốc tế vào ngày 02/09/1990. Công ƣớc quyền trẻ em đƣợc thông qua tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã thực sự làm thay đổi căn bản địa vị pháp lý của trẻ em trên toàn thế giới.
Trẻ em là những con ngƣời, là các cá nhân, chúng có vị thế bình đẳng với ngƣời lớn nhƣ những thành viên của cộng đồng nhân loại. Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con ngƣời. Theo Công ƣớc quyền trẻ em, trẻ em do còn non nớt về trí tuệ và vì thế cần đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời. Ngay tại Điều 1 Công ƣớc quyền trẻ em đã xác định rõ: “Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn” [20, tr.3] Nhƣ vậy, theo Công ƣớc quyền trẻ em, trẻ em đƣợc xác định là ngƣời dƣới 18 tuổi (trừ khi luật pháp quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn).
Các văn bản pháp luật quốc tế khác nhƣ: Quy tắc Bắc Kinh, Hƣớng dẫn Riát và Quy tắc của Liên hiệp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc quyền tự do thƣờng sử dụng thuật ngữ ngƣời chƣa thành niên là những ngƣời chƣa đến 18 tuổi. Ngoài ra, khái niệm trẻ em còn có sự khác nhau ở cách quy định độ tuổi trong từng lĩnh vực cụ thê, ví dụ nhƣ ở một số văn bản, văn kiện khác của một số tổ chức thuộc Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ dân số Liên hiệp quốc (VNFPA), tổ chức lao động quốc tế (ILO) và tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì trẻ em là những ngƣời dƣới 15 tuổi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Luật BVCS&GDTE) có quy định tại Điều 1: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [37, tr. Nhƣ vậy, căn cứ để xác định trẻ em Việt Nam phải là ngƣời có quốc tịch Việt Nam và ở trong độ tuổi từ 0 đến 16 tuổi.
Nhƣ vậy, trẻ em có hai đặc trƣng, một là công dân Việt Nam và hai là độ tuổi đƣợc xác định là dƣới 16. Nhƣ vậy, những ngƣời có quốc tịch Việt Nam dƣới 16 tuổi là đối tƣợng điều chỉnh của Luật BVCS&GDTE Việt Nam. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai khái niệm “Trẻ em” theo Luật BVCS&GDTE và khái niệm “Ngƣời chƣa thành niên” quy định tại các văn bản pháp luật khác. Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Ngƣời từ đủ mƣời tám tuổi trở lên là ngƣời thành niên.
Ngƣời chƣa đủ mƣời tám tuổi là ngƣời chƣa thành niên” [54, tr. Điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “ngƣời chƣa thành niên phạm tội là ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi” [34, tr.85], Bộ luật lao động năm 1994( sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006 và 2007) quy định: “ngƣời lao động chƣa thành niên là ngƣời lao động dƣới 18 tuổi” (Điều 119), còn khái niệm trẻ em trong Luật Lao động đƣợc qui định là ngƣời chƣa đủ 15 tuổi (Điều 120) [41, tr.79], Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định: “ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; ngƣời đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra” (Điều 6) [67, tr.23], Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định tuổi con nuôi là ngƣời từ 15 tuổi trở xuống (Điều 68) [35, tr. Nhƣ vậy, hai khái niệm nêu trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Ngƣời chƣa thành niên gồm có trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) và nhóm ngƣời từ 16 đến dƣới 18 tuổi.
Điều này có nghĩa là: Tất cả trẻ em công dân Việt Nam đều là ngƣời chƣa thành niên nhƣng không phải tất cả ngƣời chƣa thành niên đều là trẻ em. Mặc dù, độ tuổi của trẻ em trong pháp luật Việt Nam có sự qui định không thống nhất với nhau, tuy vậy bảo vệ quyền trẻ em ở nƣớc ta phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là bảo vệ quyền của cả ngƣời chƣa thành niên, tức là tất cả công dân Việt Nam dƣới 18 tuổi. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm pháp luật về quyền trẻ em Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các qui tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, do Nhà nƣớc ban hành ( hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cƣỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh [25, tr. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng tất cả các quốc gia trên thế giới đều ban hành (hoặc thừa nhận) pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp và luôn có xu hƣớng thay đổi.
Điều này khẳng định vai trò quan trọng và tính đặc thù của pháp luật so với các qui phạm xã hội, đạo đức khác. Pháp luật về quyền trẻ em có một số đặc thù sau: Thứ nhất: Pháp luật về quyền trẻ em có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi một ngành luật có những qui định đặc thù riêng về việc bảo vệ trẻ em. Luật Hiến pháp điều chỉnh các quan hệ về trẻ em trên những vấn đề mang tính nguyên tắc áp dụng nhƣ là cơ sở cho tất cả các ngành luật khác.
Mọi quy định pháp luật về trẻ em đều không đƣợc trái với Hiến pháp. Mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quyền trẻ em với các nét đặc thù riêng xuất phát từ chính bản thân đối tƣợng này và những quan hệ xã hội cơ bản “ riêng biệt” mà ngành luật đó hƣớng tới điều chỉnh nhƣng tập hợp lại đã tạo ra một hệ thống các qui phạm pháp luật bảo vệ quyền trẻ em. Trên cơ sở đó, pháp luật xác định địa vị pháp lý của trẻ em.