Chương 1 nhằm xác định cơ sở lý luận cho việc giải quyết các nội dung tại Chương 2 của đề tài. Pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, thực tiễn và giải pháp pháp lý hoàn thiện. Trong Chương này, vấn đề bảo vệ quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ được làm rõ thông qua nhiều cơ chế: Xác định cha, mẹ cho con; xác định các điều kiện cần thiết để thực hiện phương pháp hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ; vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển toàn diện của con; chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền được chăm sóc nuôi dưỡng của con. Đi từ quy định của pháp luật đến thực trạng thực thi để từ đó chỉ ra những bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật, các nội dung thuộc Chương sẽ được luận giải qua từng mục tương ứng.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG CỦA CON – TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con và quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con theo quy định của pháp luật 1. Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành thừa nhận, quan hệ cha mẹ và con có thể phát sinh từ các sự kiện: sinh đẻ, mang thai hộ, sống chung và nhận nuôi con nuôi. Sự kiện sinh đẻ Gia đình là cái nôi sinh thành của con người, là tế bào của xã hội, là nơi chuyển giao văn hóa giữa các thế hệ.
Mỗi gia đình sẽ đảm nhận và thực hiện các chức năng xã hội của riêng mình. Trong mỗi tế bào đơn cử ấy lại phát sinh và thiết lập các mối quan hệ đặc thù. Tuy nhiên, không gì sâu sắc và lâu bền hơn quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Xuyên suốt lịch sử lập pháp, từ thời kỳ phong kiến với Quốc triều Hình luật dưới thời Lê hay Luật Gia Long của triều Nguyễn, tuy chưa tồn tại quy định về việc xác định quan hệ cha mẹ và con, song trong dân gian vẫn lưu truyền nhiều phong tục tập quán nhằm chứng minh mối liên hệ này như tục “trích máu nghiệm thân”.
Đến thời kỳ Pháp thuộc, Bộ Dân luật Bắc Kỳ tại Điều 79 có thể hiện hai cách tính giá thú hợp pháp: “giá thú về chính thất và giá thú về thứ nhất”4. Theo đó, con sinh ra có giá thú sẽ được coi là con chính thức, ngược lại con sinh ra ngoài giá thú là con hoang. Điều này, đồng nghĩa với việc nếu là con ngoài giá thú thì sẽ không được phép nhận cha. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 quy định người con hoang không ai thừa nhận được phép yêu cầu Tòa án xác định cha hoặc mẹ cho mình5.
Các Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực sau đó cũng ngày càng hoàn thiện hơn trong việc ghi nhận mối quan hệ thiêng liêng giữa cha mẹ và con sinh ra từ sự kiện sinh. Sự kiện sinh đẻ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con là sự kiện con sinh ra một cách tự nhiên hoặc con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ mục đích nhân đạo, thông qua sự kiện thành thai và sinh nở (quan hệ cha mẹ - con ruột) hoặc bằng các sự kiện pháp lý nhân tạo khác. Việc xác định quan hệ giữa cha mẹ, con do sinh đẻ trên cơ sở suy đoán pháp lý, dựa vào thời kỳ hôn nhân6, khi con 4 Điều thứ 79 Dân luật tại các tòa Nam án Bắc Kỳ: “Có hai cách giá thú hợp phép: giá thú về chính thất và giá thú về thứ nhất. 5 Điều 9 Sắc lệnh số 97/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 về việc sửa đổi một số quy định và chế định về dân luật: “Người con hoang vô thừa nhận được phép thưa trước tòa án để truy nhận cha hoặc mẹ của mình”.
6 Trừ một số trường hợp ngoại lệ, khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 xác định “thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. 9 sinh ra mà cha mẹ tồn tại hôn nhân7; hoặc theo yêu cầu của các chủ thể có quyền trên cơ sở quy định của pháp luật nếu con sinh ra mà cha mẹ không tồn tại hôn nhân8. Trường hợp con sinh ra do thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm thì quan hệ cha, mẹ và con được xác định theo Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014 và việc xác định con sinh ra từ sự kiện mang thai hộ thực hiện trên cơ sở Điều 94 Luật HN&GĐ hiện hành. Tuy nhiên, ngoài sự kiện sinh, quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ chỉ được chính thức thiết lập thông qua sự kiện pháp lý thứ hai: hành vi đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
Sự kiện nhận nuôi con nuôi Sự kiện nhận nuôi con nuôi là sự kiện làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ và con thông qua việc Nhà nước bằng hệ thống pháp luật thừa nhận một hình thức chăm sóc thay thế cho những người – vì nhiều nguyên do không được hoặc không thể chung sống với gia đình ban đầu (gia đình gốc) bằng một gia đình mới. Và một trong những hình thức chăm sóc thay thế đó là việc nhận nuôi con nuôi. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa những người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi9. Khi thiết lập mối quan hệ cha mẹ và con trên cơ sở nuôi dưỡng thì giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm nuôi con nuôi sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ cha mẹ - con (cha mẹ nuôi – con nuôi) với nhau như cha mẹ đẻ với con đẻ10.
Sự kiện sống chung Theo Luật HN&GĐ năm 2014, quan hệ sống chung là quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc của chồng; con dâu, con rể với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ. Và quan hệ này chỉ phát sinh khi giữa các chủ thể này cùng chung sống với nhau. Tuy nhiên, khác với quan hệ cha mẹ và con phát sinh do sự kiện sinh đẻ hoặc sự kiện nhận nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa con dâu, con rể với cha mẹ vợ, cha mẹ chồng chỉ giới hạn trong khuôn khổ tại Điều 79, Điều 80 Luật HN&GĐ năm 2014. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con theo quy định của pháp luật Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con 7 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “1.
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải được Tòa án xác định.
8 Việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không tồn tại hôn nhân được tiến hành thông qua thủ tục hành chính, theo pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp, các bên chủ thể quan hệ còn sống và tự nguyện thừa nhận nhau. Trường hợp có tranh chấp trong việc xác định cha, mẹ - con hoặc người được xác định, người thực hiện việc xác định) là cha, mẹ, con đã chết thì việc xác định được tiến hành theo thủ tục tư pháp tại Tòa án. 9 Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. 10 Theo khoản 3 Điều 68 Luật HN&GĐ năm 2014, khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010, “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
10 Mỗi đứa con sinh ra đều được có quyền được hưởng sự chăm sóc và nuôi dưỡng từ đấng sinh thành. Theo từ điển Tiếng Việt, “chăm sóc” là “việc một người cung cấp những thứ cần thiết cho người khác, nhằm tạo điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống của người đó”. Thêm vào đó, “chăm sóc con” là việc con được dành những điều kiện cần thiết nhất như: ăn, mặc, ở và đi lại để có thể phát triển bình thường về cả thể lực lẫn trí lực trong môi trường sống lành mạnh, an toàn. “Nuôi dưỡng” được hiểu là việc “nuôi nấng và chăm chút cho sự tồn tại khỏe mạnh và phát triển nói chung” và “dưỡng dục” – giáo dục hoàn thiện nhân cách và tư duy của con.
Nhìn chung, chăm sóc và nuôi dưỡng con là một quá trình lâu dài bao gồm nhiều giai đoạn, xuyên suốt hành trình trưởng thành của con từ thời điểm người mẹ mang thai những ngày đầu tiên cho đến khi đứa con chào đời và nhận được sự yêu thương, dạy dỗ của cha mẹ lúc còn sống chung trong gia đình hoặc thậm chí khi đã đặt chân ra ngoài xã hội. Nhìn từ góc độ pháp lý, hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về thế nào là “quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con”. Song căn cứ theo Điều 69 và Điều 70 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ - con, có thể hiểu, “quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con” là việc con được hưởng những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần trong sự săn sóc ân cần, chu đáo để lớn lên bình thường và phát triển toàn diện về mọi mặt. Chính vì vậy, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng con được xem là “xương sống” để hình thành và xác lập các quyền lợi chính đáng khác của con về sau.