CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Quyền nhân thân là một lĩnh vực rộng, không chỉ được điều chỉnh bởi một ngành luật cụ thể mà nó được điều chỉnh bởi nhiều luật chuyên ngành mà trọng tâm là sự điều chỉnh của Hiến pháp và Bộ luật Dân sự. Bên cạnh những quy định tổng quan tại hệ thống luật công thì tại các mảng luật tư, quyền nhân thân cũng được xác lập, giới hạn và điều chỉnh trong khuôn khổ của từng ngành luật với những nét đặc thù riêng.
Quyền nhân thân là một thuật ngữ pháp lý được nhắc đến lần đầu tiên trong BLDS 199513, ra đời với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để bảo vệ cho các cá nhân tồn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thể độc lập trong cộng đồng. Trong tiến trình phát triển của pháp luật, các chế định về quyền nhân thân cũng được xây dựng, điều chỉnh theo hướng tiến bộ. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân Về khái niệm quyền nhân thân, trong pháp luật thực định cũng như trong các công trình nghiên cứu khoa học vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất, cụ thể về quyền nhân thân. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà lập pháp và các nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Trên tinh thần tiếp thu và phát triển những luồng quan điểm tiến bộ, 13 Quốc hội (44-L/CTN), Bộ luật Dân sự 1995, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội. 8 trong BLDS 201514, các nhà lập pháp Việt Nam đã nhìn nhận quyền nhân thân trên hai vấn đề cơ bản là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 25 BLDS 201515 đã quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.” Qua quy định này, có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau: Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõ cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình16. Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác.
Như vậy, dù nhìn nhân trên quan điểm nào, đứng trên những góc độ nào thì về cơ bản, quyền nhân thân vẫn hội tụ những điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, là một bộ phận của quyền dân sự và thuộc về cá nhân. Thứ hai, gắn liền với những giá trị tinh thần không định giá được (quyền đối với họ tên, quyền được khai sinh, quyền được khai tử, quyền tự do đi lại và tự do cư trú, quyền đối với hình ảnh cá nhân, quyền bí mật đời tư, quyền tác giả…) và không ai được phép xâm phạm. Thứ ba, không thể chuyển giao cho người khác. 14 Quốc hội (91/2015/QH13), Bộ luật Dân sự, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội.
15 Xem Khoản 1 Điều 25 BLDS 2015. 16 Đặng Thị Lưu, Quyền nhân thân của cá nhân trong pháp luật dân sự, Tạp chí tòa án nhân dân cơ quan của tòa án nhân dân tối cao. Xem tại: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-nhan-than-cua-ca-nhan-trong-phap-luat-dan- su?fbclid=IwAR0BDa1Er2wl3oq9nWOXfDkBxmtmWy0f6cCK2z0MNXo6sfrAJC4fJ_Oefrs. 9 Về đặc điểm của quyền nhân thân, với bản chất là một bộ phận của quyền dân sự, nó có đầy đủ đặc điểm của quyền dân sự nói chung và mang một số đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt với quyền tài sản như: Quyền nhân thân luôn gắn với một cá nhân xác định, không được phép chuyển giao cho người khác.
Mỗi một chủ thể mang một giá trị nhân thân đặc trưng, do đó, quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định. Quyền nhân thân không bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào (như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội. Hơn nữa, quyền này do Nhà nước quy định dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội nhất định nên cá nhân không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Nói cách khác, quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân.
Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản. Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà không được hưởng lợi ích vật chất. Đối tượng của quyền nhân thân là một giá trị tinh thần, do đó, nó không biểu hiện bằng vật chất, không quy đổi được thành tiền và chỉ mang giá trị tinh thần. Quyền nhân thân là quyền tuyệt đối, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.
Quyền nhân thân là một quyền trong năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi hay chấm dứt các quyền đó. Hơn nữa, mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân, đều được pháp luật bảo vệ như nhau khi các quyền đó bị xâm phạm. Khái niệm, đặc điểm của quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Quyền nhân thân là một phạm trù rộng, đa dạng, có liên quan đến mối quan hệ giữa các các nhân với cá nhân, tổ chức và với Nhà nước. Thông qua quy định của BLDS 201517, các quyền nhân thân của cá nhân đã được quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn và phạm vi điều chỉnh rộng hơn.
Quyền nhân thân trong lĩnh vực 17 Quốc hội (91/2015/QH13), Bộ luật Dân sự, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội. 10 HNGĐ được xem là bộ phận cấu thành không thể thiếu của quyền nhân thân, được pháp luật dân sự trực tiếp quy định và điều chỉnh bởi một quy phạm pháp luật riêng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 BLDS 201518: “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.” Theo đó, quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ của cá nhân được tiếp cận từ hai phương diện chủ yếu.
Đầu tiên, quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ được tiếp cận dưới góc độ là các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân. Tiếp theo, các quyền này được gắn liền với các nhóm quan hệ cơ bản trong lĩnh vực HNGĐ là quan hệ hôn nhân; quan hệ vợ chồng; quan hệ cha, mẹ và con; quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ được pháp luật dân sự trang bị cho các cá nhân nhằm xác định tư cách chủ thể trong quan hệ HNGĐ, các quyền này hầu như chưa được quy định cụ thể trong Hiến pháp nên dễ bị phân biệt đối xử do các định kiến xã hội (do những thói quen và suy nghĩ lạc hậu đã in sâu trong tiềm thức và xã hội nước ta). Tương tự như những đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân, quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ mang đầy đủ các đặc trưng vốn có và hội tụ những yếu tố điển hình khi gắn liền với quan hệ HNGĐ trong xã hội Việt Nam.
Các đặc điểm của quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ có thể được khái quát như sau: Thứ nhất, mức độ công nhận và thực thi phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất của chế độ xã hội qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Dưới các xã hội cũ, 18 Xem Khoản 1 Điều 39 BLDS 2015. 11 quyền con người về HNGĐ được xác định theo tư tưởng “phụ quyền19” và “gia trưởng”20. Quyền được xác lập và ưu tiên cho người đàn ông, quyền của người phụ nữ phụ thuộc vào lợi ích của người đàn ông trong gia đình.
Mặt khác, quyền về HNGĐ trong các chế độ xã hội cũ được xác định theo nguyên tắc phụ thuộc về thứ bậc “trên dưới”, trong đó, quyền của người bậc dưới sẽ bị phụ thuộc vào lợi ích của người bậc trên. Hay nói cách khác, quan điểm về quyền nhân thân trong giai đoạn này luôn gắn liền với tư tưởng “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và suy nghĩ “muôn đăng hộ đối”. Trong xã hội dân chủ hiện nay, các quyền này trở thành một trong các quyền cơ bản nhất của cá nhân, được pháp luật ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản luật có liên quan. Nguyên tắc cơ bản trong công nhận và bảo đảm thực thi nhóm quyền này là bình đẳng, không phân biệt đối xử, kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Thứ hai, quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ ở Việt Nam được đặt trong lợi ích chung của gia đình và xã hội. Xuất phát từ nền văn minh lúa nước, xã hội bao đời nay luôn có kết cấu chặt chẽ “gia đình – làng xã – nhà nước” và gia đình là tế bào của xã hội. Quyền của cá nhân về HNGĐ vì thế cũng thường bị hạn chế bởi lợi ích chung của gia đình. Pháp luật HNGĐ hiện hành cũng ghi nhận nguyên tắc cơ bản là “các chủ thể thực hiện quyền trên cơ sở lợi ích chung của gia đình”.
Trong thực tiễn cuộc sống, một cá nhân khi cân nhắc giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của gia đình, thì lựa việc chọn lợi ích gia đình vẫn mang tính phổ biến hơn cả. Thứ ba, quyền nhân thân trong lĩnh vực HNGĐ ở Việt Nam tồn tại sự xung 19 Chế độ “phụ quyền” là một hệ thống xã hội trong đó nam giới giữ vai trò là nhân vật quyền lực chủ yếu với tổ chức xã hội, đồng thời là nơi mà người cha có quyền lực đối với phụ nữ, trẻ em và tài sản. Từ này ngụ ý về một thể chế mà nam giới nắm quyền lực và phụ nữ phải chịu sự lệ thuộc.