Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người và quyền công dân là một trong những định hướng trọng tâm của cải cách tư pháp. Nguyên tắc "Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự" đã được hiến định tại Điều 132 Hiến pháp năm 1992, tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 và được thể chế hóa cụ thể tại Điều 9 cùng khoản 13 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015). Hoạt động tố tụng dân sự vốn mang tính chất phức tạp, chuyên môn sâu, đòi hỏi sự am hiểu pháp luật và kỹ năng thu thập, chứng minh chứng cứ. Do đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (NBVQVLIHPCĐS) đóng vai trò là cầu nối pháp lý thiết yếu, hỗ trợ đương sự thực hiện đầy đủ quyền tự định đoạt, đồng thời hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ việc khách quan, chính xác và đúng pháp luật.

Mặc dù BLTTDS 2015 đã có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung tiến bộ so với các giai đoạn trước, thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn bộc lộ không ít rào cản và bất cập. Trên thực tế, NBVQVLIHPCĐS vẫn gặp trở ngại từ phía cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, việc tiếp cận và sao chụp hồ sơ vụ án còn bị hạn chế, thủ tục tranh tụng tại một số phiên tòa còn mang tính hình thức, và tỷ lệ các vụ án có sự tham gia của người bảo vệ tại Tòa án nhân dân cấp huyện còn ở mức rất thấp. Nhằm giải quyết các vướng mắc lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả Nguyễn Thị Hà Quyên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự".

Khóa luận xác định rõ mục đích và 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu khái quát những vấn đề chung, cơ sở lý luận về NBVQVLIHPCĐS trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
  2. Tìm hiểu quy định của pháp luật một số nước trên thế giới (Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) về NBVQVLIHPCĐS trong tố tụng dân sự, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  3. Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn áp dụng để chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  4. Đưa ra hệ thống các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, nâng cao hiệu quả tham gia của NBVQVLIHPCĐS.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, hệ thống quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về NBVQVLIHPCĐS và thực tiễn thi hành các quy định này tại cơ quan Tòa án.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu hoạt động của NBVQVLIHPCĐS trong các vụ án dân sự trải qua hai giai đoạn cụ thể là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm theo BLTTDS 2015; không bao quát việc giải quyết việc dân sự cũng như các giai đoạn tố tụng đặc biệt khác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng các văn bản quy phạm pháp luật thực định và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Hệ thống văn bản pháp luật sử dụng: Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Công đoàn; Nghị định số 123/2013/NĐ-CP; Nghị định số 43/2013/NĐ-CP; Thông tư số 05/2021/TT-BTP của Bộ Tư pháp; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Pháp luật nước ngoài tham chiếu: Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp năm 1806 (với 1.507 điều luật và các điều khoản sửa đổi: Điều 337, 412, 413, 416, 828); Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1991 (Điều 50, Điều 54).
  • Tổng quan tài liệu kế thừa: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Nguyễn Triều Dương (2015); Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thanh Hoa (2018); các bài viết nghiên cứu chuyên sâu của Hoàng Thu Yến (2014) trên Tạp chí Quản lý nhà nước và Phan Nguyễn Bảo Ngọc (2017) trên Tạp chí Tòa án nhân dân.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp so sánh luật học: Dùng để đối chiếu mô hình tố tụng của Pháp và Trung Quốc với Việt Nam; so sánh quy định giữa BLTTDS 2015 với BLTTDS 2004 (sửa đổi 2011) về thủ tục đăng ký, thẩm quyền hỏi và tranh tụng.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được triển khai xuyên suốt nhằm mổ xẻ nội dung từng điều luật, đánh giá bản chất các quan hệ tố tụng và tổng hợp dữ liệu thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn thiện.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2023 của Bộ Tư pháp; Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp; Báo cáo tổng kết công tác xét xử giai đoạn 2021–2022 của TAND huyện Đông Hưng và TAND huyện Quỳnh Phụ (tỉnh Thái Bình); dữ liệu thống kê từ Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và nghiên cứu luật học so sánh:

  • Khái niệm và đặc điểm: Căn cứ vào chức năng tố tụng, chủ thể tố tụng dân sự chia làm hai nhóm: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. NBVQVLIHPCĐS thuộc nhóm người tham gia tố tụng khác, mang tính chất bổ trợ tư pháp, không có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với đối tượng tranh chấp của vụ án. Theo khoản 1 Điều 75 BLTTDS 2015, NBVQVLIHPCĐS là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu và được Tòa án chấp nhận làm thủ tục đăng ký. Đặc điểm cốt lõi gồm: xuất hiện dựa trên sự lựa chọn và ý chí định đoạt của đương sự; là người có kiến thức pháp lý và chuyên môn nghiệp vụ; phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
  • Ý nghĩa pháp lý - xã hội: Hoạt động của NBVQVLIHPCĐS giúp đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng; cung cấp luận cứ bảo vệ quyền lợi chính đáng; tạo sự bình đẳng vũ khí pháp lý; tham gia giám sát tính khách quan của cơ quan tiến hành tố tụng; đồng thời thông qua thực tiễn giúp phát hiện các bất cập để kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
    • Cộng hòa Pháp: BLTTDS Pháp năm 1806 phân tách rõ hai nhóm chủ thể trợ giúp/đại diện: luật sư và người không phải luật sư (Điều 828). Điểm đặc thù tại Điều 416 là luật sư và thừa phát lại được hưởng quyền miễn trừ chứng minh quyền đại diện/trợ giúp, trong khi các cá nhân khác bắt buộc phải xuất trình văn bản chứng minh việc ủy quyền. Pháp đã thành công trong việc kết hợp linh hoạt giữa mô hình tố tụng xét hỏi truyền thống và mô hình tố tụng tranh tụng hiện đại.
    • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: BLTTDS năm 1991 (Điều 50, 54) quy định tư cách đại diện tranh tụng có thẩm quyền sâu rộng: thu thập chứng cứ, tham gia tranh luận, thỏa thuận hòa giải, kháng cáo. Tòa án không chủ động điều tra thay thế chứng cứ của các bên; kết quả điều tra của Tòa án nếu không được đưa ra tranh luận công khai tại phiên tòa thì không được dùng làm căn cứ ra phán quyết.
    • Bài học cho Việt Nam: Cần tiếp thu có chọn lọc cơ chế kết hợp xét hỏi và tranh tụng, mở rộng phạm vi tranh tụng dân chủ, nâng cao vị thế và kỹ năng lập luận của người bảo vệ tại phiên tòa.

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 2 phân tích chi tiết quy chế pháp lý của NBVQVLIHPCĐS theo BLTTDS 2015 và các luật chuyên ngành:

  • Điều kiện và thủ tục đăng ký (Điều 75 BLTTDS 2015): Để trở thành NBVQVLIHPCĐS cần 02 điều kiện: có yêu cầu bằng văn bản của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký. Khoản 5 Điều 75 quy định thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Tòa án phải vào sổ đăng ký và xác nhận vào giấy yêu cầu; nếu từ chối phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Đây là bước tiến lớn so với cơ chế "cấp giấy chứng nhận" mang tính xin - cho chủ quan tại BLTTDS 2004 (sửa đổi 2011). Tuy nhiên, luật hiện hành chưa quy định rõ các căn cứ cụ thể để Tòa án được phép từ chối đăng ký.
  • Các nhóm chủ thể tham gia (khoản 2 Điều 75 BLTTDS 2015):
    1. Luật sư: Phải đáp ứng tiêu chuẩn theo Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi 2012), có chứng chỉ hành nghề, gia nhập Đoàn luật sư và xuất trình giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư kèm thẻ luật sư.
    2. Trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý: Thực hiện theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đối với 15 nhóm đối tượng yếu thế (hộ nghèo, người có công, trẻ em...).
    3. Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động (Công đoàn): Theo Luật Công đoàn và Điều 11 Nghị định 43/2013/NĐ-CP, đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong các vụ án lao động quy định tại Điều 32, 33 BLTTDS 2015.
    4. Công dân Việt Nam: Đáp ứng năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích (hoặc đã xóa án tích), không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
    • Đối tượng bị cấm: Cán bộ, công chức thuộc cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan ngành Công an không được làm NBVQVLIHPCĐS nhằm bảo đảm tính khách quan trong hoạt động xét xử.
  • Quyền và nghĩa vụ tố tụng (Điều 76 kết hợp Điều 70 BLTTDS 2015):
    • Quyền tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất kỳ giai đoạn nào trong vụ án sơ thẩm và phúc thẩm (tuy nhiên tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 338, 357, người bảo vệ chỉ được tham gia khi Tòa án thấy cần thiết).
    • Quyền tự mình thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án (BLTTDS 2015 đã bãi bỏ quyền "xác minh chứng cứ" để phù hợp với chức năng bổ trợ).
    • Quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, ghi chép và sao chụp tài liệu (trừ các tài liệu chứa bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, bí mật nghề nghiệp).
    • Quyền tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo khoản 7 Điều 48.
    • Quyền tranh luận và thứ tự hỏi tại phiên tòa: Điểm đổi mới tại Điều 249 BLTTDS 2015 là đương sự và NBVQVLIHPCĐS được hỏi trước Hội đồng xét xử; Điều 260 quy định rõ thứ tự phát biểu tranh luận và đối đáp.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật dựa trên số liệu thực tế và đề xuất giải pháp:

  • Tình hình tham gia: Đội ngũ luật sư và trợ giúp viên pháp lý có sự gia tăng về số lượng. Tính đến ngày 31/12/2022, Liên đoàn Luật sư Việt Nam có 17.317 luật sư (trung bình kết nạp 1.000 luật sư/năm). Sau 05 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý 2017, các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã thực hiện 920.292 vụ việc. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia trong tố tụng dân sự còn rất khiêm tốn.
  • Những tồn tại, hạn chế:
    • Mạng lưới tổ chức hành nghề luật sư phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh; các tỉnh miền núi như Hà Nam, Lai Châu, Kon Tum có không quá 03 văn phòng luật sư đang hoạt động.
    • Tỷ lệ các vụ án dân sự có người bảo vệ tham gia tại Tòa án nhân dân cấp huyện ở mức thấp (dưới 7%).
    • Quyền thu thập chứng cứ bị cản trở do cơ quan, tổ chức lưu giữ tài liệu cố tình từ chối cung cấp mà pháp luật chưa có chế tài xử lý tương ứng đối với yêu cầu của người bảo vệ.
    • Tòa án ở một số địa phương còn gây khó khăn trong việc đăng ký và cho sao chụp hồ sơ vụ án; phiên tòa xét xử ở một số nơi vẫn còn nặng về thủ tục xét hỏi, hạn chế thời gian tranh luận.
    • Trình độ ngoại ngữ pháp lý của nhiều luật sư trong các vụ án có yếu tố nước ngoài còn hạn chế; một số trường hợp vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Dữ liệu thực tiễn được tổng hợp trong khóa luận

Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu thực tế về hoạt động của NBVQVLIHPCĐS được trích xuất từ các báo cáo thống kê chính thức có trong văn bản:

Tiêu chí thống kê Dữ liệu / Số lượng thực tế Nguồn trích xuất trong văn bản
Tổng số luật sư cả nước 17.317 luật sư (tính đến 31/12/2022; trung bình kết nạp 1.000 luật sư/năm) Báo cáo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Tổng số vụ việc Trợ giúp pháp lý 920.292 vụ việc (gồm 12.756 vụ việc đại diện bảo vệ quyền lợi) sau 5 năm Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp
Cơ cấu vụ việc Trợ giúp pháp lý 223.035 vụ đất đai; 196.769 vụ dân sự; 124.963 vụ tài sản; 101.746 vụ hôn nhân & gia đình; 20.298 vụ lao động; 98.872 vụ khác Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý
Vụ việc dân sự có Luật sư tham gia toàn quốc 30.179 vụ dân sự & hôn nhân gia đình; 9.281 vụ kinh tế, thương mại; 2.991 vụ lao động / tổng số >300.000 vụ việc Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2023 của Bộ Tư pháp
TAND huyện Đông Hưng (Thái Bình) - Năm 2021: 20/315 vụ việc có người bảo vệ (đạt 6,3%)
- Năm 2022: 15/290 vụ việc có người bảo vệ (đạt 5,17%)
Báo cáo công tác xét xử TAND huyện Đông Hưng
TAND huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) - Năm 2021: 15/270 vụ việc có người bảo vệ (đạt 5,5%)
- Năm 2022: 19/305 vụ việc có người bảo vệ (đạt 6,2%)
Báo cáo công tác xét xử TAND huyện Quỳnh Phụ
Tổ chức hành nghề tại một số tỉnh Hà Nam, Lai Châu, Kon Tum có không quá 03 văn phòng luật sư đang hoạt động Số liệu theo dõi của Bộ Tư pháp

Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện của tác giả

  1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

    • Bổ sung căn cứ từ chối đăng ký: Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 75 BLTTDS 2015 theo hướng liệt kê rõ ràng các trường hợp Tòa án được quyền từ chối đăng ký NBVQVLIHPCĐS, tránh việc Tòa án lạm quyền từ chối tùy tiện.
    • Quy định chế tài thu thập chứng cứ: Bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân cố tình trì hoãn hoặc không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu hợp pháp của NBVQVLIHPCĐS (tương tự như chế tài bảo đảm cho Tòa án và Viện kiểm sát tại Điều 106 và Điều 489 BLTTDS 2015).
    • Sửa đổi quy định hoãn phiên tòa tại Điều 227: Sửa đổi khoản 1 Điều 227 BLTTDS 2015 theo hướng: Nếu NBVQVLIHPCĐS vắng mặt lần thứ nhất không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nhưng đương sự có mặt và khẳng định tự bảo vệ được, đồng thời yêu cầu Tòa án tiếp tục xét xử thì Tòa án không bắt buộc phải hoãn phiên tòa nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
    • Chuẩn hóa nội dung tranh luận: Hướng dẫn cụ thể về nội dung, phạm vi và căn cứ tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm nhằm bảo đảm tính thống nhất, tránh việc tranh luận lan man gây lãng phí thời gian tố tụng.
  2. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:

    • Đẩy mạnh chính sách phát triển tổ chức hành nghề luật sư tại các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa;
    • Tăng cường đào tạo chuyên môn, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng thực chiến, nâng cao trình độ ngoại ngữ pháp lý và giữ vững quy tắc đạo đức nghề nghiệp;
    • Quán triệt đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án tạo điều kiện thuận lợi cho NBVQVLIHPCĐS trong việc tiếp cận, sao chụp hồ sơ vụ án ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát trong khuôn khổ giải quyết vụ án dân sự tại hai giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTDS 2015. Đề tài chưa đi sâu vào vai trò của NBVQVLIHPCĐS trong việc giải quyết việc dân sự, thủ tục rút gọn cũng như giai đoạn thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, số liệu thực tiễn cấp huyện chủ yếu được thu thập tại địa bàn tỉnh Thái Bình và một số Tòa án tại TP. Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền lợi của đương sự trong các thủ tục giải quyết việc dân sự, thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm và giai đoạn thi hành án dân sự; đồng thời triển khai khảo sát thực nghiệm trên diện rộng tại các vùng kinh tế trọng điểm khác của cả nước.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự: Nắm vững toàn diện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý, sự phát triển quy định từ BLTTDS 2004 đến BLTTDS 2015 và các bài học kinh nghiệm so sánh từ pháp luật Cộng hòa Pháp và Trung Quốc.
  • Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý và Người làm công tác pháp luật: Tham khảo nguồn dữ liệu thực chứng, các phân tích về thủ tục đăng ký người bảo vệ, quy trình thu thập chứng cứ, thứ tự hỏi và kỹ năng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật và Tòa án: Đóng góp luận cứ khoa học và các số liệu xác thực phục vụ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung BLTTDS và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời hạn và thủ tục để Tòa án đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo BLTTDS 2015 được quy định như thế nào?

Theo khoản 5 Điều 75 BLTTDS 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kèm đầy đủ giấy tờ hợp lệ, Tòa án phải vào sổ đăng ký NBVQVLIHPCĐS và xác nhận vào giấy yêu cầu của người bảo vệ. Trường hợp từ chối đăng ký, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị biết.

2. Sự khác biệt cơ bản về thủ tục công nhận người bảo vệ giữa BLTTDS 2015 và BLTTDS 2004 (sửa đổi 2011) là gì?

Theo BLTTDS 2004 (sửa đổi 2011), người bảo vệ phải được Tòa án ra quyết định "cấp giấy chứng nhận" (phụ thuộc vào sự chấp nhận mang tính chủ quan của Tòa án). Ngược lại, BLTTDS 2015 đã đơn giản hóa thủ tục: Tòa án chỉ thực hiện việc kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ để "vào sổ đăng ký và xác nhận vào giấy yêu cầu", giúp bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự và giảm thiểu sự cản trở từ cơ quan tiến hành tố tụng.

3. Pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp quy định quyền miễn trừ chứng minh tư cách trợ giúp/đại diện như thế nào?

Điều 416 BLTTDS Pháp năm 1806 quy định: Người nào muốn đại diện hoặc trợ giúp đương sự đều phải xuất trình văn bản chứng minh việc ủy quyền hoặc trợ giúp. Tuy nhiên, luật sư và thừa phát lại được pháp luật công nhận quyền miễn trừ nghĩa vụ chứng minh này khi tham gia tố tụng.

4. Tỷ lệ vụ việc dân sự có người bảo vệ tham gia tại Tòa án cấp huyện (khảo sát tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021–2022) đạt bao nhiêu?

Theo số liệu trong khóa luận:

  • Tại TAND huyện Đông Hưng: Năm 2021 đạt 6,3% (20/315 vụ việc); năm 2022 đạt 5,17% (15/290 vụ việc).
  • Tại TAND huyện Quỳnh Phụ: Năm 2021 đạt 5,5% (15/270 vụ việc); năm 2022 đạt 6,2% (19/305 vụ việc).

5. Tác giả kiến nghị sửa đổi quy định hoãn phiên tòa tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS 2015 như thế nào?

Tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 227 theo hướng: Khi người bảo vệ vắng mặt lần thứ nhất không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nhưng đương sự có mặt, tự nhận thấy có thể tự bảo vệ quyền lợi cho mình và có yêu cầu hủy bỏ tư cách người bảo vệ để tiếp tục phiên tòa thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường, tránh việc hoãn phiên tòa gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà Quyên là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chế định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam. Dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa phân tích quy phạm pháp luật thực định, đối chiếu pháp luật so sánh của Pháp và Trung Quốc, cùng các dữ liệu khảo sát thực tế tại cấp cơ sở, đề tài đã làm rõ thực trạng áp dụng và chỉ ra những điểm nghẽn trong hoạt động tố tụng. Các kiến nghị sửa đổi điều luật cụ thể (Điều 75, Điều 227) và giải pháp thực thi được đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam.