CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái quát chung về quyền của lao động nữ. Khái niệm người lao động nữ và quyền của người lao động nữ. Lao động là một trong những hoạt động chủ yếu của con người, nhờ có lao động mà con người đã dần dần thoát ra khỏi thế giới loài vật và hình thành xã hội loài người như hiện nay.
Người lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. “Người lao động” có thể được hiểu là người làm công ăn lương. Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để tạo ra sản phẩm cho người sử dụng lao động và thường được thuê với hợp đồng làm việc để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Dưới góc độ pháp luật, căn cứ theo khoản 1 điều 3 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Theo quy định trên thì không phải bất kỳ công dân nào cũng là người lao động trong quan hệ pháp luật về sử dụng lao động.
Muốn trở thành người lao động thì người đó phải đáp ứng đủ nhưng điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Khái niệm về giới là cách để xã hội chia con người thành các phạm trù, các loại và chỉ định cho mỗi loại một kiểu hành vi riêng, những trách nhiệm và quyền lợi riêng. Sự phân công lao động theo giới là sự phân chia công việc giữa nam và nữ. Theo Công ước số 111 về phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính không mang ý nghĩa phụ nữ hay giới tính sinh học mà được hiểu là đặc điểm vị trí vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội tức là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội.
Do vậy, từ đây ta có thể hiểu, lao động nữ là người phụ nữ từ đủ 15 tuổi 8 trở lên, có khả năng lao động, sử dụng sức lao động của mình tham gia vào quan hệ lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Sự khác biệt về giới tính làm cho lao động nữ có những đặc tính riêng đối với lao động nam. Tính đặc thù của lao động nữ thể hiện ở những đặc điểm về tâm sinh lý và thể lực. Trước hết, do tạo hóa sinh ra phụ nữ có cấu tạo hình thể bên ngoài nhỏ bé hơn nam giới, do đó, những công việc đòi hỏi chiều cao, hình thể bên ngoài thì người lao động nam có lợi thế hơn, lao động nữ thường yếu hơn nam nên họ thích hợp với những công việc nhẹ nhàng.
Hơn thế, do cấu tạo sinh học của nam giới với nhiều mô cơ bắp, còn phụ nữ nhiều mô cơ mỡ, nên sự dẻo dai và sức mạnh của người lao động nữ thường kém hơn người lao động nam. Thứ hai, do chức năng thiên bẩm của người phụ nữ là tái sản xuất giống nòi,vì vậy cho nên trong cuộc đời họ cần một khoảng thời gian nhất định để sinh nở. Có lẽ chính chức năng duy trì nòi giống đã tạo cho người phụ nữ có đức tính kiên trì, chịu đựng cao. Khái niệm quyền của lao động nữ.
Quyền của người lao động là những xử sự pháp lý hoặc hành vi pháp lý được Nhà nước ghi nhận trong pháp luật Lao động dành cho người lao động, theo đó, người lao động được phép lựa chọn thực hiện những hành vi nhất định, hoặc được yêu cầu người khác thực hiện, hay được yêu cầu pháp luật bảo vệ lợi ích của mình. Có thể hiểu rằng, quyền của người lao động là những quyền liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng. Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 về quyền và nghĩa vụ của người lao động, quyền của người lao động có thể chia thành các nhóm quyền như sau: 9 - Quyền làm việc trong đó bao gồm quyền tự do không bị lao động cưỡng bức, quyền tự do chấp nhận và lựa chọn công việc; - Quyền được hưởng mức lương công bằng và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau; - Quyền được làm việc trong điều kiện đảm bảo vệ sinh và an toàn lao động; - Quyền được có thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi hợp lý - Quyền được thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, trong đó bao gồm cả quyền được thương lượng tập thể và đình công; - Quyền được hưởng an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013 đã nêu rõ về “quyền và nghĩa vụ của người lao động” tại điều 5 như sau: “1. Người lao động có các quyền sau đây: a, Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử; b, Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; c, Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động; d, Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; 10 đ, Đình công.
Người lao động có các nghĩa vụ sau đây: a, Thực hiện họp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể; b, Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành họp pháp của người sử dụng lao động; c, Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.” Quyền lao động là quyền cá nhân con người, có từ khi con người có đủ khả năng và điều kiện lao động và gắn liền với sự tồn tại của con người. Quyền của người lao động nữ xuất phát từ nền tảng người phụ nữ trong quan hệ lao động, do vậy nó mang nhiều đặc điểm quyền của người phụ nữ. - Đặc điểm quyền của lao động nữ: Các quyền phụ nữ cũng có tất cả những đặc trưng của quyền con người, nhưng quyền phụ nữ có tính phổ biến đối với phụ nữ. Do vậy, quyền phụ nữ bao gồm các đặc điểm sau: Tính phổ biến: Quyền con người bảo đảm cho tất cả mọi người không phân biệt giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, địa vị xã hội các quyền bình đẳng và giá trị mà họ được thụ hưởng ở bất cứ đâu và bất kỳ lúc nào.
Tính không thể chuyển nhượng: Quyền con người là những quyền không thể mang ra mua bán, chuyển nhượng, trao đổi, thương thuyết, tức là không thể được ban phát, rút lại hay bị tước đoạt. Quyền con người là sở hữu vốn có của mỗi người bất kể địa vị của họ như thế nào trong xã hội. Tính không thể chia cắt, tính tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Các quyền con người gồm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội có quan hệ tương tác, 11 phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể không thể tách rời.
Với đặc trưng này, quyền con người mới có thể bảo đảm cho mỗi người được hưởng tự do, an ninh và có một điều kiện sống tốt đẹp với chân giá trị của mình. - Bên cạnh đó, quyền của lao động nữ còn mang những đặc trưng như: + Quyền của người lao động nữ phải gắn liền với quan hệ lao động: Phụ nữ cũng là con người nên về mặt pháp lý quyền phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con người. Khi nói đến quyền phụ nữ là nói đến quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền của người lao động nữ chỉ xuất hiện khi người phụ nữ tham gia vào lĩnh vực lao động, sản xuất,… Pháp luật ghi nhận và bảo vệ người lao động nữ với tư cách là bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động, không chỉ bao hàm mục đích bảo vệ sức lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động mà còn phải bảo vệ cho họ trên nhiều phương diện: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, nhu cầu nghỉ ngơi, liên kết và phát triển trong môi trường xã hội lành mạnh và phát triển… + Quyền của người lao động nữ xuất phát từ những đặc tính riêng của nữ giới: Lao động nữ là lực lượng chủ yếu trong lao động xã hội, họ cùng với lao động nam tạo ra của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển ngày càng cao hơn.
Họ tham gia các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất nhưng do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau. Có thể khẳng định những thói quen, tuổi tác, sức khỏe, năng lực, phong tục truyền thống và chuẩn mực ảnh hưởng đến kết quả 12 lao động.
Các đặc điểm về tâm sinh lý và kinh tế xã hội là các nhân tố luận giải khi xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động có chủ thể lao động nữ tham gia thì cần có quy định mang tính đặc thù để phù hợp với họ. Quyền của lao động nữ chính là sự cụ thể hóa quyền lao động đối với giới nữ căn cứ vào yếu tố đặc thù của giới.