Chương 1: Những vấn dé lý luận về quyền lợi của bên tham gia bảo hiểm và pháp luật về bảo vệ quyền lợi của bên tham gia báo hiểm. Chương 2: Thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ quyển lợi của bên tham gia bảo hiểm tại Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện vả nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyển lợi của bên tham gia bảo hiểm ở Việt Nam. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYỀN LỢI CUA BEN THAM GIA BẢO HIEM VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO VỆ QUYEN LỢI CUA BEN THAM GIA BẢO HIEM 1.
Những van đề lý luận về bảo hiểm va bảo vệ quyền lợi của bên tham gia bảo hiểm 1. Khái niệm, đặc điểm về bảo hiểm Hình thức đầu tiên của bảo hiểm là quỹ hỗ trợ, quỹ này được thảnh lập bởi những người có mối quan hệ trong củng một lĩnh vực để giúp đỡ các thành viên gặp khó khăn.000 năm trước Công nguyên, các thợ đá ở AI Cập đã biết liên kết cộng đồng dé tạo ra bảo hiểm thông qua việc lập các quỹ tương trợ. Sau đó, vào khoảng 1.700 năm trước Công nguyên, hình thức bao hiểm nhằm mục đích thương mại đầu tiên tạo bởi các tổ chức chuyên nghiệp xuất hiện ở Babylon. Qua thời gian, các phương thức và kĩ thuật thực hiện kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng phát triển.
Vào đầu thế kỉ XIV tại Italia, Tây Ban Nha các ban hợp đồng hàng hai đã được thiết lập. Từ cuối thé ki XVII ở Anh thì bảo hiểm hàng hải được thực hiện như một nghiệp vụ kinh doanh và đến đầu thế ki XVII, nhằm đáp ứng nhu cầu lúc bay giờ, nhiều loại hình kinh doanh bảo hiểm được ra đời như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm thân thẻ. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã thúc đây kinh doanh bảo hiểm có đa dạng loại hình bảo hiểm hơn, được biết lúc Ấy đã có hơn 100 loại bảo hiểm và được phân thành 3 nhóm chính là bảo hiểm tải sản, bảo hiểm con TEƯỜI va bảo hiểm trách nhiệm. Trong thời kì phát triển kinh tế bởi kế hoạch hoá tập trung, các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu áp dụng nguyên tắc Nhà Nước độc quyển kinh doanh bảo hiểm được gọi 1a bảo hiểm Nha Nước.
Rồi sau khi chuyển sang nền kinh 11 tế thị trường, Nhà Nước đã cấp phép cho nhiều đơn vị tư nhân được kinh doanh thương mại hóa các hoạt động bảo hiểm. Từ đó, hoạt động bảo hiểm không còn thuộc sở hữu duy nhất của Nhà Nước như trước đây. Nhìn chung, dù ở thời kì nào thì cuộc sống luôn tiềm ân những rủi ro không thê lường trước được. Nguyên nhân gây ra rủi ro là yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và yếu tố xã hội khác.
Dù muốn hay không rủi ro đã xuất hiện, vẫn tổn tại và chi phối đến cuộc sống của mỗi TEƯỜI, mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì thế, bảo hiểm ra đời để phan nao hé tro kip thời các bất trắc có thé xảy ra. Rui ro sẽ được quản lý hoặc giảm thiểu ở mức độ cao hoặc thấp hơn tùy thuộc vào chính sách của từng doanh nghiệp bảo hiểm. Qua đó có thê hiểu khái niệm bảo hiểm như sau: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, bên tham gia bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiên gọi là phí bảo hiểm để cho mình hoặc để cho một người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tôn thất được trả bởi doanh nghiệp bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hai theo quy định cu thé trong hop động bao hiém”. , Tham gia bảo hiểm là cách vừa bao vệ ban thân va gia đình trước những rủi ro không lường trước được, đồng thời dam bao tài chính ổn định cho tương lai. Dé bảo hiểm cho bên tham gia bảo hiểm va người thân của họ thì cá nhân sẽ ký hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm. Có những trường hop, hợp đồng báo hiém cũng được ký kết giữa một tổ chức va doanh nghiệp bảo hiểm, mục đích là bảo vệ cho các thành viên trong tổ chức của minh va đảm bảo én định tải chính cho bên tham gia bảo hiểm khi người được bảo hiểm xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Bảo hiểm có một sô đặc diém sau: 12 Thứ nhất là tính bảo vệ: Bảo hiém là một loại hình tài chính đề bảo vệ trong những tình huống rủi ro dua trên nguyên tắc phân tán rủi ro cho nhiều người tham gia. Bảo hiểm vận hành theo nguyên tắc “Lấy số đông, bù số it”. Theo đó, bên tham gia bảo hiểm cùng góp phí bảo hiểm để tạo ra quỹ bảo hiểm và bồi thường cho những người gặp rủi ro, nên mang tính kinh tế và tính xã hội cao. Nó giúp cho bên tham gia báo hiém khắc phục nhanh những thiệt hai, dam bao cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường.
Thứ hai là tinh tự nguyện: Bảo hiểm là một quyền lợi của người dân lựa chọn để phòng ngừa rủi ro cho chính mình, không phải 1a một nghĩa vụ. Chính vì vậy, bên tham gia bảo hiểm có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia, quyên lựa chọn loại hình bảo hiểm mình tham gia, trừ những trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật. Thứ ba là tính hợp pháp: Bảo hiém phải được thực hiện theo hợp đồng giữa hai bên, có giá trị pháp lý và tuân thủ các quy định của pháp luật. Hợp đồng bảo hiểm phải rõ ràng về các điều khoản, quyển lợi và nghĩa vụ của các bên.
Thứ tư là tính phòng ngừa rủi ro: Bảo hiểm mang lại lợi ích về mặt quản trị rủi ro cho tất cả các tình huống liên quan và không liên quan đến con người như rủi ro về sức khỏe, y tế, tai nạn, kê cả những tình huống như hỏa hoạn, cháy nỗ, hư hỏng. Các loại bảo hiểm đều phát huy tính năng khi có một trong những rủi ro xảy ra trong đời sống hằng ngảy, giúp cuộc sống của chúng ta không bị xáo trộn va ảnh hưởng. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyên lợi của bên tham gia bảo hiểm 1:12. Bên tham gia bảo hiểm 13 Bên mua bảo hiểm là tô chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và đóng phí bao hiểm '.
Đối tượng này khi mua bảo hiém cần có năng lực hành vi dân sự day đủ. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyển nghĩa vụ dân sự. Theo đó, bên tham gia bảo hiểm được coi là có năng lực hành vi đây đủ khi đủ 18 tuổi, không mắc các bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức. Điều kiện nay dam bao rang bén mua bảo hiểm là cá nhân có thể kiểm soát được hành vi giao kết và thực hiện hợp đồng.
Bên mua bảo hiểm là người trực tiếp giao kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm thông qua việc nộp đơn yêu cầu bảo hiểm và được doanh nghiệp bao hiểm chấp nhận bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thê đồng thời là người được bảo hiểm trong trường hợp mua bảo hiểm cho chính bản thân bên mua bảo hiém. Người được bao hiểm là tô chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, sức khỏe, tính mạng, hoặc lợi ích kinh tế được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm”. Trong suốt quá trình tham gia hợp đồng bao hiểm thì người được bảo hiểm là đối tượng không thê thay đổi được, các đối tượng khác như bên mua bảo hiểm và người thụ hưởng có thé thay đổi duoc.
Mức độ chấp nhận bảo vệ với người được bảo hiểm phụ thuộc vao yếu tố độ tuổi, nghề nghiệp, giới tinh trong đó độ tuổi của người được bảo hiểm là yêu tố quan trong dé doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm. Khi người được bảo hiểm tudi cảng cao, rủi ro càng cao và các doanh nghiệp bảo hiểm thường không chấp nhận bảo hiểm cho người được bảo hiểm ở độ tuổi giới hạn tối đa nào đó. Có 1 Khoản 24 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 ? Khoản 25 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 14 những trường hop, một số sản phẩm bảo hiểm chỉ áp dụng cho một độ tuổi nhất định. Người thụ hưởng là người hoặc những người được nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định”.
Khái niệm này đã khẳng định rõ chủ thể là người thụ hưởng chỉ có trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, còn hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại hay hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm không có chủ thể này. Nói một cách đơn gián, người thụ hưởng là người nhận được lợi ích theo sự chỉ định hoặc sự công nhận trong phạm vi pháp luật cho phép. Quyên lợi cơ ban của bên tham gia bảo hiểm va van dé bảo vệ quyên lợi Theo Từ điển Tiếng Việt thì “quyền” được hiểu là điều được hưởng do pháp luật hoặc xã hội công nhận hoặc do địa vị đem lại 4 hoặc “ quyền” là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Không chỉ riêng Việt Nam mà các nước khác có hoạt động kinh doanh bảo hiểm đều không có định nghĩa riêng về quyền lợi bên tham gia bảo hiểm.
Tuy nhiên, quyên lợi của bên tham gia bảo hiểm có thể được hiểu theo lối suy đoán từ quyên lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm. Theo đó, quyển lợi của bên tham gia bảo hiểm là “khả năng của bên tham gia bảo hiểm được phép xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật kinh doanh bảo hiểm ghi nhận ”. , > Khoản 26 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 4 Nguyễn Thị Bich Hanh, Ngo[1 Thị Thu HuDoIIng (2019), “Tw điển Tiếng VieDt”, NXB Dan trí, Hà NọL], trang 35 5 Hoàng Phe[ (2002), “Tử điển Tiếng Viet”, NXB Hồng Đức, Hà NoUi, trang 1031.