CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VE QUYEN CUA CÁ NHÂN DOI VỚI HÌNH ANH TRONG PHAP LUAT DAN SU VA BAO VỆ QUYEN CUA CÁ NHÂN DOI VỚI HÌNH ANH TRONG BOI CANH CÁCH MANG CONG NGHIEP 4. Khái quát chung về quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Mỗi một cá nhân từ khi sinh ra đều có quyền con người “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” [Điều 3, 37] và quyền con người của họ luôn được pháp luật bảo vệ. Các quyền nhân thân nói chung hiện nay được quy định trong pháp luật dân sự, trong đó quyên nhân thân đối với hình ảnh ngày được quy định theo hướng hoàn thiện hơn. Trong đó, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền mà hiện nay bị xâm hại rất nhiều, nhất là việc đăng tải, chia sẻ các hình ảnh của cá nhân, của người khác lên mạng xã hội.
Chính vì vậy, việc xác định được quyền của cá nhân đối với hình ảnh và bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh là vô cùng quan trọng. Khái niệm quyền của cá nhân doi với hình ảnh 1. Khải niệm hình ảnh, hình ảnh của cá nhân Hình ảnh trong mọi lĩnh vực đều có một khái niệm khác nhau. Tùy thuộc ở các lĩnh vực khác nhau thì có thé hiểu khái niệm “hình ảnh” theo một cách riêng.Trong lĩnh vực truyền hình, hình ảnh “/d những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não giúp ta cảm nhận được hình ảnh đó một cách chân thực nhất, từ đó đưa ra những phản xạ cảm nhận về hình anh mà ta vừa thu nhận ”[3Š].
11 Hình ảnh có nghĩa là hình hoặc đại diện trực quan của một cái gì đó hoặc ai đó. Nó xuất phát từ inago Latin, fantini, có nghĩa là chân dung. Theo nghĩa này, nó có thể là một bức tranh, một bức vẽ, một bức chân dung, một bức ảnh hoặc một video. Một hình ảnh có thé chi đơn giản là tìm cách đại diện cho thực tế hoặc, đúng hơn, có chức năng tượng trưng, với một tải trọng đáng kê trong bối cảnh văn hóa của nó.
Đây là trường hợp của hình ảnh như biển báo giao thông, cờ hoặc bién báo, liên quan đến giao tiếp trực quan Trong lĩnh vực mỹ thuật, “hình ảnh” được hiểu là “sự diễn tả và tái hiện một vật, một người trong nghệ thuật tạo hình (hội họa đô họa, điêu khắc). Hình ảnh trong nghệ thuật không phải là sự sao chụp thụ động vẻ ngoài của mẫu thuật, mà còn nhằm lột tả tinh than của mau”. Trong triết học, hình ảnh được xem “Jd kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm phản đoản và suy luận. Về mặt nguồn góc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận thức tôn tại, hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ các mô hình ký hiệu khác nhau ”[21]. Theo từ điển Tiếng Việt, hình ảnh được giải thích là “Hinh người, vật, cảnh tượng được thu bằng khí cụ quang học nh máy ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt ”[39].
Có thé hiểu răng hình ảnh của cá nhân là những ảnh mang tính chất riêng tư chứ không như hình ảnh ở những nơi sinh hoạt công cộng, ở nơi đông người. Ví dụ như hình ảnh của một người đứng ở công viên nếu trong ảnh chỉ có riêng người đó thì có thê xem là ảnh riêng tư, ảnh của cá nhân. Nhưng 12 nếu là một tắm ảnh chụp quang cảnh chung ở công viên đông người đó, có mặt của nhiều người trong ảnh thì có thể được hiểu đó là ảnh sinh hoạt tập thé nơi công cộng và đó không phải anh cá nhân nữa. Theo “quyền sở hữu trí tuệ” thì bức anh, tắm hình, pho tượng đều là loại hình tác phẩm nghệ thuật, người sử dung tác pham nghệ thuật trước tiên phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và phải trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, trả nhuận bút, thù lao cho người sáng tác (người chụp, sao chép, họa hình.
Việc sử dụng hình ảnh để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có ảnh bị nghiêm cắm. Nếu đối chiếu với luật của nước ngoài thì cơ chế pháp luật Việt Nam về vấn đề quyền đối với hình ảnh của cá nhân khá hoàn chỉnh. Cá nhân được bảo vệ hình ảnh dưới nhiều hình thức dù là tranh vẽ, ảnh chụp hoặc quay phim. Điều quan trọng là hình ảnh đó lấy từ một người và giống với người đó.
Giống như quy định của một số nước, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam chỉ bảo vệ hình ảnh của cá nhân mà người trong ảnh có thể nhận dạng, không phụ thuộc vào ảnh có khuôn mặt hay có ghi tên của cá nhân đó, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, thì việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó. Thực tế, hầu như mọi cá nhân chưa thực sự nhận thức được đầy đủ, rõ ràng về quyền đối với hình ảnh của chính bản thân mình đồng thời chưa triệt dé bảo vệ hình anh của cá nhân khi có hành vi xâm phạm của chủ thê khác. Can lưu ý rằng: hình anh của cá nhân có thé được hiểu theo một nghĩa rộng hơn: các thuộc tính đặc trưng chính của những con người thực bao gồm không chỉ có hình anh được thé hiện bằng những phương tiện kỹ thuật khác nhau như đã nói ở trên, mà còn có thể là giọng nói, điệu bộ, cử chỉ hoặc những dấu hiệu đặc trưng khác (nói một cách khác đó là những đặc điểm nhân dạng thực sự của một cá nhân). Ví dụ: điệu bộ, cử chỉ của các diễn viên hài 13 nổi tiếng trong các màn trình diễn; thói quen đặc trưng của các nhân vật nồi tiéng.[18] Hình anh không chi đơn thuần là sự phản chiếu của sự vật, hiện tượng mà trong mỗi bức ảnh còn ân chứa nét riêng của chủ thé trong từng bức ảnh giúp phân biệt hình ảnh đó và các hình ảnh khác.
Hình ảnh của cá nhân không chỉ là những gì có thé được nhìn thấy thông qua thị giác, đó còn là danh dự, nhân phẩm của cá nhân đó. Từ những phân tích trên, có thé rút ra khái niệm về hình ảnh như sau “Hình ảnh của cá nhân là sự tái hiện vẻ bê ngoài của một người thông qua thị giác, qua đó ghi lại và gây ấn tượng bang dau ấn riêng cho người khác và người xem ảnh có thể nhận diện được cả nhân đang được tái hiện là ai". Khái niệm về quyên của cá nhân doi với hình ảnh Hình ảnh của cá nhân thuộc sở hữu của mỗi cá nhân bất cứ ai muốn sử dụng hình ảnh của người khác đều phải có sự chấp thuận của người đó với mục đích nhất định. Hình ảnh của cá nhân gan liền với uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác.
Vì vậy, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân khi nhận được sự đồng ý là bảo vệ quyền nhân thân của con người. Hình ảnh của cá nhân có thê được thể hiện bằng rất nhiều phương tiện kỹ thuật khác nhau: từ ảnh chụp, ảnh vẽ, quay phim cho đến nặn tượng. Cũng giống như họ, tên, hình ảnh của cá nhân là một yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc riêng và là yếu tố tồn tại gắn liền với nhân thân của của cá nhân đó. Do vậy, cho dù được tạo ra dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hình ảnh của một cá nhân luôn là đối tượng thuộc quyền nhân thân của người có hình ảnh đó.
Như khái niệm đã nêu trên, hình ảnh của cá nhân là tái hiện vẻ bên ngoài của ai đó nên khi nhìn vào hình ảnh đó, mọi người có thê nhận biết được đó là ai dù không cần có sự xuất hiện của người đó. Vì vậy, pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thé về quyền nhân thân đối với hình ảnh. 14 Hình ảnh của cá nhân bao gồm các đặc điểm nhận dạng của người đó như đáng người, khuôn mặt, cử chỉ, hành động, ké cả kiểu tóc, điệu bộ hay tư thé của người đó nếu qua đó mọi người có thé nhận ra người này. Đối với những người nổi tiếng thì hình ảnh này cũng là sự công nhận của công chting,quyén của cá nhân đối với hình ảnh chính là quyền của cá nhân đối với những đặc điểm nêu trên.
Chỉ riêng cá nhân đó có mới có quyền đối với hình ảnh của mình. Dù người đó thay đôi hình anh bằng cách cắt tóc, phẫu thuật thẩm mỹ thì quyền về hình ảnh vẫn thuộc về cá nhân đó và sự thay đôi đó là sự lựa chọn của chính họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong các quy định pháp luật dân sự Việt Nam trước đây, dù đã nói đến khía cạnh cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, tuy nhiên chưa đưa ra được khái niệm rõ ràng về quyền cá nhân đối với hình ảnh. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là các quyền thuộc về giá trị tinh thần được pháp luật bảo vệ.
Về bản chất, quyền của cá nhân đối với hình ảnh phản ánh đúng đặc điểm của quyền nhân thân. Đối tượng được pháp luật bảo vệ ở đây là giá trị tinh thần chứ không phải là giá trị vật chất. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý. Da phan, khi một người sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác đều vì một mục đích nhất định.
Phần lớn trong số đó là vì mục đích thương mại. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân thông qua việc tự khai thác giá trị thương mại hình ảnh của bản thân bằng việc bán hình ảnh của mình cho người khác sử dụng và nhận tiền. Ví dụ: Người mẫu ký hợp đồng với các nhiếp ảnh gia, theo đó các nhiếp ảnh gia phải trả tiền để được chụp ảnh họ. Từ những phân tích ở trên, có thé hiểu: “Quyển của cá nhân doi với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liên với cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo 15 vệ, theo đó ca nhân được phép tạo lập, sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình anh theo ý chí cua ca nhân do”.