Lời mở đầu của Chương Bao mật Hiến pháp Úc quy định rang: Một xã hội tự do và dân chủ đòi hỏi phải tôn trọng quyền tự chủ của các cá nhân và giới hạn quyền lực của các cơ quan (cả nhà nước và tư nhân) trong việc xâm phạm vào quyền tự chủ của cá nhân. Quyền riêng tư là một quyền cơ bản của con người và mỗi người mong muôn được tôn trọng. 14 Như vậy, từ những phân tích trên có thé nhận thay quyền riêng tư có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, vốn là một đặc trưng của nền văn hóa phương Tây. Bảo vệ sự toàn vẹn của nhân cách và bản thê cũng quan trọng như bảo vệ cơ thể vật lý bên ngoài.
Trong trào lưu giải phóng con người, người phương Tây ngày càng mất niềm tin vào các định chế công. Họ đặc biệt sợ hãi về một xã hội nơi chính quyền biết hết mọi thứ về cá nhân qua các hồ sơ lưu trữ, qua hệ thống giám sát chặt chẽ và các cơ quan thực thi pháp luật mang tính kiểm soát tư tưởng như được mô tả trong các tác phẩm nghệ thuật giả tưởng từ Kafka, Zamyatin và Orwell. Trước nhu cầu đó, đối với người phương Tây, quyền riêng tư là quyền tự mình bảo vệ, nhờ pháp luật bảo vệ, hoặc cam kẻ khác không được xâm phạm đến những không gian, những vật thể, những thông tin mà mình muốn giữ kín. Đối tượng được bảo vệ của quyền riêng tư hoàn toàn được quyết định bởi ý chí cá nhân, thé hiện quyền tự chủ của cá nhân trong những van dé thuộc đời sống của mình.
Như một hệ quả, quy phạm hóa quyên riêng tư thành luật là sản pham tất yếu của chủ nghĩa cá nhân phương Tây. Mặc dù những quan điểm trên về quyên riêng tư có nhiều điểm không giống nhau song chúng đều nhắn mạnh rằng quyền nay dùng dé hoạt động riêng của cá nhân mà không chịu bất ky sự can thiệp nào từ bên ngoài. Nói cách khác sự tự chủ là yếu tô quan trọng nhất của quyên riêng tư. Trong văn hóa phương Đông xưa không thể tìm thấy thuật ngữ “riêng tư, mà chữ “tư” có ý nghĩa gắn liền với chữ “tôi”4.
Trong tiếng Việt, “tôï” vốn là một đại từ mang tính nhún nhường, khiêm cung, gắn liền với vị thế thấp hơn trong xã hội. Các tư tưởng chính trị, xã hội truyền thống ở khu vực Đông A đều nhắn mạnh sự rút lui của cái tôi cá nhân khỏi cộng đồng, nhường bước trước những lợi ích lớn lao hơn của tập thê. Phật giáo, hướng tới một xã hội đại đồng, yêu sách mỗi cá nhân phải ân đi cái tự ngã, tu thân dưỡng tính, hướng về cõi không5. Các nhà nho học lỗi lạc nhất trong lịch sử A Đông đều đề cao tinh thần “vô tư”, tu thân, giữ nghĩa, ding đạo lý tự răn mình dé làm tròn vai về trong một xã hội tôn ti.
Như vậy, bi đặt trong thế đối lập với chủ nghĩa tập thé, cá nhân không có vi trí gì đáng ké trong xã hội 15 truyền thống phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Đi xa hơn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyén thậm chí nhắn mạnh rang, trong xã hội Việt Nam, “Jindividu n’est rien” (tạm dịch: cá nhân không là gì cả). Don vi cơ bản trong xã hội Việt Nam truyền thống không phải là cá nhân, mà là gia đình. Nhà văn hóa Đào Duy Anh từng khăng định: “.
địa vị gia đình ở trong xã hội là tối trọng, mà cá nhân chỉ là những phần tử vô danh ở trong gia đình thôi. Cái kết quả rõ ràng của chế độ ấy là khiến cá tính của người ta không thê nào phát triển ở trong phạm vi gia đình được”. Đối với người Việt Nam trong xã hội phong kiến, “quyền” không phải là “tự do làm những gì luật không cắm” mà là “làm những gì được cho phép làm”. Chữ “quyền” gần gũi với “quyền uy” hơn trong tâm thức người phương Đông.
Vua có quyền hơn tôi, cha có quyền hơn con, chồng có quyền hơn vợ. Mỗi cá nhân đều phục tùng trước sự sắp đặt của tôn ti, trật tư, nhún nhường trước quyền uy của người gia trưởng. Đến lượt mình, bản thân mỗi gia đình cũng chủ động chôn vùi những tâm tư ý nhị của các thành viên, chỉ tiết lộ với người ngoài về những công trạng làm rạng danh gia tộc — “tốt khoe, xấu che”. Vị tôn phu tôn phu là cái “nóc” che đậy và đại diện cho bộ mặt của cả ngôi nhà và cũng là người đứng mũi chiu sào cho mọi hành vi của mọi người trong gia đình.
Cửa nhà, một cách éo le, trở thành nơi chôn kín bi mật cá nhân. Chăng cần vay mượn lý thuyết chế tài từ phương Tây, điều tiếng, tin đồn — thứ nghìn năm sau van còn lưu giữ qua “bia miệng”, chính là sợi dây trói buộc hành vi người Việt hữu hiệu nhất. Trong văn hóa làng xã xưa, tiếng xấu đồn xa là điều cám cảnh tâm thức và ràng buộc hành vi người Việt. Người Việt Nam không thé hiểu được quy phạm về quyền riêng tu, thứ vốn gan liền với chủ nghĩa cá nhân kiểu phương Tây.
“Ân Tư”, thuật ngữ chỉ quyền riêng tư trong Hoa ngữ hiện đại, có gốc gác gần nghĩa với y phục, ám chỉ việc che đậy những bộ phận nhạy cảm để khỏi làm ô uế văn hóa xã hội9. Trong bầu khí quyên bao trùm của bồn phận, những khao khát manh mtn tầm thường của cái tôi càng không hòa được vào tiếng nói chung về bồn phận với gia đình, với làng, với nước. Nam nữ tư tình, buôn vui ý nhi, “sâu riêng”, thì cũng đên lúc phải “hóa vui 16 chung trăm nhà”. Đó là sự lùi bước của riêng tư cá nhân trước những đại tự sự của tập thê.
Quyền riêng tư là một quyền con người đặc biệt quan trọng nhưng không phải là quyền tuyệt đối. Quyền riêng tư cần được bảo vệ khỏi sự can thiệp tùy tiện hoặc trái pháp luật của mọi thê nhân, pháp nhân trong đó bao gồm các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước cùng người sử dụng lao động. Tuy nhiên trong một số trường hợp nhà nước có thê thu thập hoặc yêu cầu công dân cung cấp các thông tin về đời tư nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng của quốc gia, cộng đồng và của người khác. Bên cạnh đó, quyên riêng tư cũng bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định như liên quan đến việc bảo vệ thuần phong mỹ tục và các điều cắm của pháp luật.
Quyền riêng tư có sự gắn bó mật thiết với các quyền khác như: quyền tự do ngôn luận và biểu dat; quyền tự do hiệp hội và hội họp; quyền tự do báo chi,. Tất cả những quan niệm nêu trên đã cho thấy, thuật ngữ quyền riêng tư và những tư tưởng về quyên riêng tư đã ra đời và phát triển khá lâu trước khi nó được chính thức công nhận là một quyền cơ bản trong các điều ước quốc tế cũng như trong Hiến pháp của các quốc gia và hiện nay, quyền này đang định hình, khang định vai trò của nó trong hệ thống các quyền nhân thân của công dân. Tóm lại, Quyên riêng tư là quyền của cá nhân không chịu sự can thiệp của bat kỳ chủ thé nào trong việc ra quyết định hoặc tự do hành động trong khuôn khổ pháp luật và dao đức xã hội của bản thân mỗi người, ké cả trong gia đình và ngoài xã hội, trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Như vậy, quyén riéng tu duoc hiéu là không ai phải chịu can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tu, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân.\awa Tổ chức Quốc tế và Trung tâm bảo mật thông tin điện tử năm 2004 đã đưa ra báo cáo “Quyền riêng tư và nhân quyên”.
(awsi[33] Nội dung của báo cáo đã công bố sự phát triển của pháp luật từ năm 1997 về bảo vệ sự riêng tư ở 50 quốc gia. Từ báo cáo này, có thê thây quyên riêng tư bao gôm một sô nội dung cơ bản sau: 17 Một là, sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ về công dân đó. Nó còn được gọi là “bảo vệ dữ liệu”. Hai là, sự riêng tư về cơ thể: liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của người dân đối với hình thức xâm hại như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sảng trên cơ thể.
Ba là, sự riêng tư về thông tin liên lạc: bao gồm bảo mật và riêng tư về thư tín, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác. Bốn là, sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng. Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi băng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân. Đặc diém của quyền riêng tw Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 và Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 đánh dấu sự phát triển sự thắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ quyên con người.
Quyền con người đã thoát khỏi bóng đen của sự phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, khoảng cách giàu nghèo dé trở về đúng bản chat tự nhiên và xã hội của con người, đó là quyền gan với mỗi cá nhân, được bao đảm thực hiện băng pháp luật, quy phạm xã hội và quy phạm đạo đức. Quyền con người là tổng hợp của hai nhóm quyền cơ bản là quyền tài sản và quyền nhân thân. Là một quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ, đặc điểm của quyền riêng tư là những thuộc tinh, tính chất nối bật của quyền riêng tư, là cơ sở dé phân biệt quyền riêng tư với các quyền năng khác trong hệ thống quyền con người. - Quyén riêng tu được pháp luật thừa nhận và thuộc về cá nhaniawe| Quyền riêng tư là một quyền dân sự cơ ban của mọi cá nhân, được pháp luật quốc gia và luật nhân quyền quyền quốc tế ghi nhận và bảo vệ.
Quyền này được đề cập tại Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Điều 17 Công ước quốc tẾ về các quyền dân sự và chính tri năm 1966 (ICCPR),.