Chương 1:Lý luận chung về pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 1. Cơ sở lý luận về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 1. Khái niệm về thủy sản Thủy sản theo Từ điển bách khoa toàn thư là thuật ngữ chỉ chung cho những sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng, thu hoạch và sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc kinh doanh trên thị trường. Như vậy, nguồn lợi thủy sản theo khái niệm Luật thủy sản 2003 đưa ra là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên nhưu ao, hồ, song, ngòi, biển… đem lại giá trị kinh tế, giá trị nghiên cứu khoa học để phát triển KTTS, bảo tồn và phát triển NLTS.
Dựa trên đặc điểm cấu tạo loài, tính ăn có thể phân loại thủy sản thành các nhóm như sau: - Nhóm cá: Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hoặc cá nước lợ. - Nhóm giáp xác: Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi phổ biến và khá quan trọng. - Nhóm động vật thân mềm: gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển. - Nhóm rong: Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loại có kích thước nhỏ, nhưng cũng có loại có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros,Sargassium (Alginate), Gracillaria… - Nhóm bò sát và lưỡng cư: Bò sát là động vật bốn chân có màng ối.
Còn lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước được nuôi để lấy thịt, lấy da dung làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi, cá sấu… Thủy sản là một trong những ngành hàng sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế nằm trong tổng thể kinh tế - xã hội của loài người nhất là quốc gia có địa hình thủy văn phong phú vì nó cung cấp thực phẩm chon hu cầu của người dân. NLTS là nguồn thực phẩm quan trọng và không thể thiếu đối với con người trên toàn thế giới. Ngày này nuôi trông thủy sản cung cấp khoảng 27% tổng sản lượng thủy sản thế giới, chiếm gần 30% sản lượng dung làm thực phẩm. Đối tượng nuôi trồng rất phong phú mọi chủng loại.
Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc - FAO, nhu cầu thủy sản trên đầu người luôn tăng cao. Nhu cầu tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 sẽ được bù đắp chủ yếu bằng tăng trưởng nguồn cung thủy sản nuôi trồng, dự kiến đạt 102 triệu tấn vào năm 2025, tăng 39% so với giai đoạn trước. Khái niệm nguồn lợi thủy sản và hoạt động thủy sản - Theo nghĩa rộng, nguồn lợi thủy sản là những sinh vật có ích sống trong môi trường nước. - Định nghĩa về nguồn lợi thủy sản: Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 1 Điều 2 Luật thủy sản).
Tài nguyên thủy sản là tài nguyên sinh vật (động vật, thực vật hay vi sinh vật) sống ở các vùng nước tự nhiên (vùng nước nội địa và vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam), có giá trị kinh tế (chế biến, sử dụng), giá trị khoa học (nghiên cứu đa dạng sinh học). Tài nguyên thủy sản là một loại tài nguyên có thể phục hồi, có khả năng tái tạo, tuy nhiên phải khai thác trong giới hạn trữ lượng cho phép, tránh sự tuyệt chủng và gây mất cân bằng sinh thái. - Định nghĩa về hoạt động thủy sản: Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 2, Điều 2, Luật thủy sản). Hoạt động thủy sản là một hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều khâu khác nhau và được thực hiện thông qua vai trò của Bộ quản lý chuyên ngành là Bộ NN&PTNT.
NTTS có quy mô khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia: từ quy mô gia đình gắn liền với hệ thống canh tác tổng hợp đến những trang trại nuôi chuyên công nghiệp hóa quy mô lớn. Cùng với việc gia tăng sản xuất, thương mại thủy sản toàn cầu cũng phát triển một cách nhanh chóng đặc biệt là các hàng hóa thủy sản sống và tươi đang ngày một tang nhanh. Sự bùng nổ dân số thế giới cùng hậu quả của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng làm thu hẹp đất canh tác trong nông nghiệp lẫn ngư nghiệp cộng thêm những diễn biến bất lợi do thiên nhiên gây ra đã khiến lương thực, thực phẩm trở thành mặt hàng chiến lược trên thị trường thế giới. Trong điều kiện đó sản phẩm thủy sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng.
Vì vậy, phát triển nguồn lợi thủy sản ở những nơi có điều kiện không đơn thuần là đòi hỏi cấp bách và lâu dài cho việc giải quyết thực phẩm tại chỗ, giải quyết lao động việc làm mà ngành sản xuất này đang và đầy hứa hẹn có thể trở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thành ngành kinh doanh có lãi suất cao với xu hướng ổn định lâu dài trên thị trường quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng bậc nhất của sản xuất kinh doanh thủy sản và tiếp tục là một trong những xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản đặt ra yêu cầu cần có một cơ chế đảm bảo cho nguồn tài nguyên này được sử dụng và phát huy tác dụng đúng cách nhằm góp phần phát triển bền vững nền kinh tế nội địa. Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là mọi hoạt động nhằm ngăn chặn, xử lý, khắc phục những nguy cơ, tác động xấu do thiên nhiên và con người có thể gây ra cho khả năng sinh lợi của nguồn tài nguyên thủy sản.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường nói chung trong đó có tài nguyên thủy sản, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trên cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường. Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như bảo vệ môi trường nói chung có rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng phổ biến là các nhóm biện pháp như: Nhóm biện pháp chính trị; Nhóm biện pháp tuyên truyền giáo dục; Nhóm biện pháp kinh tế, tài chính; Nhóm biện pháp mang tính khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Nhóm biện pháp pháp lý. Khái niệm pháp luật bảo vệ nguồn lợi thủy sản 1. Khái niệm Trong số các biện pháp BVNLTS nêu trên thì biện pháp pháp lý giữ vai trò cũng như tầm quan trọng đặc trưng.
Bởi môi trường nước là khởi nguồn đem lại nguồn lợi thủy sản và môi trường nước bị hủy hoại chủ yếu dưới sự tác động của con người. Chính con người trong quá trình khai thác nguồn lợi thủy sản đã làm mất đi sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường và gây thiệt hại cho nguồn lợi thủy sản. Vì vậy, muốn BVNLTS thì trước hết phải tác động đến con người. Pháp luật với tư cách là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự con người sẽ có tác dụng cũng như ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động BVNLTS.
Hiện nay, pháp luật BVNLTS chưa được quy định thành một chế định riêng biệt mà nằm trong hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường. Cho nên muốn hiểu pháp luật BVNLTS trước hết ta cần hiểu rõ về pháp luật bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới, luật môi trường ra đời muộn so với các ngành luật khác. Sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước vào các hoạt động bảo vệ môi trường để ngăn chặn sự hủy hoại hoặc suy thoái của môi trường khiến lĩnh vực pháp luật này mang nhiều dấu ấn quyền lực.
Chính vì vậy, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trường là một mảng hay một chế định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của luật hành chính. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng luật môi trường là ngành luật độc lập, không thuộc phạm vi của luật hành chính mặc dù các quy định về quản lý nhà nước đối với môi trường khá phổ biến trong các quan hệ được coi là đối tượng của nó. Vấn đề đặt ra là pháp luật môi trường có hoàn toàn thuộc luật hành chính hay là một lĩnh vực pháp luật độc lập. Quan điểm coi luật môi trường là bộ phận của luật hành chính có hạt nhân hợp lý của nó.
Đó là tính chất quản lý nhà nước đối với hoạt động liên quan đến môi trường. Phần lớn các quy định của luật môi trường đều có mục tiêu là giúp nhà nước quản lý hoạt động nào có khả năng tác động đến môi trường. Trên thực tế, không có bất cứ hoạt động nào nằm ngoài môi trường cụ thể kể cả hoạt động khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản. Vì vậy, có thể nói rằng xét ở góc độ môi trường thì phạm vi hoạt động quản lý nhà nước là hết sức rộng lớn.
Tuy nhiên, luật môi trường không nên coi là bộ phận của luật hành chính bởi tất cả các ngành luật khác cũng đều có yếu tố quản lý hành chính như luật môi trường. Luật môi trường cần được coi là lĩnh vực luật riêng biệt xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn của nó. Sự phát triển của luật môi trường ở một số nước cũng cho thấy tính riêng biệt (độc lập tương đối) của lĩnh vực pháp lý này. Ở Mỹ, nơi pháp luật môi trường xuất hiện sớm nhất, nơi có các án lệ liên quan đến bồi thường do gây ô nhiễm môi trường.
Các văn bản pháp luật về môi trường cũng xuất hiện khá sớm so với nhiều nước như Đạo luật về sông và bến cảng năm 1899 được ban hành việc cấm xả chất thải vào vùng nước của Mỹ; Năm 1967, Quốc hội Mỹ ban hành Luật về chất lượng không khí; Luật bảo vệ môi trường liên bang năm 1969; Luật về sản phẩm an toàn năm 1972; Luật nước sạch1… Nhiều đạo luật khác về môi trường cũng được tiếp tục ban hành và tạo nên một hệ thống pháp luật môi trường đầy đủ và toàn diện. Luật môi trường ở Mỹ được coi là lĩnh vực pháp luật riêng biệt, không nằm trong phạm vi pháp luật hành chính. Australia cũng là quốc gia có sự phát triển đáng lưu ý về lĩnh vực luật môi trường.