CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH MUA SẮM TRỰC TUYẾN THEO HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 1. Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch mua sắm trực tuyến Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng (NTD) luôn là một lực lượng đông đảo, quan trọng, là động lực góp phần phát triển của quá trình sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Với nhu cầu và thị hiếu của mình, NTD đã có tác động vô cùng to lớn đối với quá trình dẫn dắt, vận hành của thị trường, đặc biệt là trong giao dịch mua sắm trực tuyến hiện nay. Khái niệm người tiêu dùng Trong khoa học pháp lý, “người tiêu dùng” là chủ thể của quan hệ pháp luật khi lĩnh vực pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời.
Còn trong kinh tế học, thuật ngữ “người tiêu dùng” được sử dụng để chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế7. Tại Việt Nam, khái niệm “người tiêu dùng” lần đầu tiên được ghi nhận chính thức tại Điều 1, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999. Theo đó, “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”. Cho đến năm 2010, khi Luật BVQLNTD được ban hành, thay thế cho Pháp lệnh nói trên thì khái niệm này lại tiếp tục được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3 của Luật này và nội dung không có sự thay đổi.
Như vậy, theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010 thì NTD bao gồm các đối tượng không chỉ là cá nhân tiêu dùng riêng lẻ mà còn là các tổ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể…) tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó8. 7 Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Đại học Luật Hà Nội (2014), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội (tr. 8 Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương (2016), Tài liệu Hỏi đáp về pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội (tr. 9 Theo quan niệm của Liên minh Châu Âu (EU) về khái niệm “người tiêu dùng” thì tại Chỉ thị số 2011/83/EC9 ngày 25 tháng 20 năm 2011 có quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa là bất kỳ thể nhân nào (tức là cá nhân) tham gia các hợp đồng được điều chỉnh bởi Chỉ thị này…, vì mục đích ngoài thương mại, không liên quan đến hoạt động kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp của mình”.
Quan điểm này của Liên minh Châu Âu tương đối đồng nhất với quan điểm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Đức, Nhật Bản, Trung Quốc,… Bên cạnh đó, Điều 13, Bộ luật dân sự của Đức năm 2002 định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân nào tham gia giao dịch không thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp của người này”. Và Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 định nghĩa: “Người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh”. Có thể thấy, các quốc gia nói trên đều có chung một cách tiếp cận đó là coi NTD bao gồm cá nhân, chứ không bao gồm các tổ chức. Quan điểm này xuất phát từ mục đích của việc bảo vệ NTD với tư cách là bên yếu thế trong quan hệ với bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ do sự mất cân xứng về khả năng tiếp cận thông tin cũng như điều kiện kinh tế của một cá nhân so với một tổ chức hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp.
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia thường nhận diện NTD dựa trên việc đánh giá 03 tiêu chí, đó là: (i) NTD là cá nhân (nhưng cũng có thể gồm cả tổ chức); (ii) Đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ; (iii) Việc tham gia vào quan hệ không nhằm mục đích kinh doanh. Xét trên tiêu chí này, NTD là người mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích phục vụ sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia đình chứ không sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích cung cấp lại để tìm kiếm lợi nhuận. Quan hệ tiêu dùng được xác lập dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc 9 Chỉ thị 2011/83 / EU của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 25 tháng 10 năm 2011 về quyền của người tiêu dùng. 10 trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Như vậy, quan niệm của pháp luật Việt Nam về NTD khá đồng nhất với quan niệm hiện nay của các nước trên thế giới. Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 1. Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam Kể từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, vai trò của NTD ngày càng được nâng cao. Qua đó, công tác bảo vệ quyền lợi NTD đã được xác định và quy định bởi pháp luật.
Ở Việt Nam, giai đoạn trước năm 1986 hầu như chưa có một văn bản pháp lý nào liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. Sau năm 1986, các quy định về bảo vệ quyền lợi NTD ở thời kỳ này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau10. Và cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định vấn đề bảo vệ NTD tại Điều 28, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền lợi của người tiêu dùng”. Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 chính là bước đi đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta.
Sự ra đời của Pháp lệnh này mang lại ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ, nó là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên, quy định đầy đủ quyền, trách nhiệm của NTD; trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền; trách nhiệm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi NTD. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD đã chưa thể tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD. Chính vì vậy, ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12; bổ sung nhiều quy định quan trọng như bảo vệ thông tin NTD, trách nhiệm bồi 10 Pháp lệnh đo lường ngày 06/7/1990, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 140/HBT ngày 25/04/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn hàng giả, Bộ luật dân sự năm 1995, Luật Thương mại ngày 10/5/1997. Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa,… 11 thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra, hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giao dịch chung… So với các nước trong khu vực, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề bảo vệ NTD với Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm 1999 và Luật BVQLNTD được ban hành năm 2010.
Luật BVQLNTD được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8, ngày 17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Sự ra đời của Luật BVQLNTD không chỉ đánh dấu một giai đoạn phát triển mới mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nền tảng hoạt động và tạo động lực thúc đẩy thực thi hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong các hoạt động bảo vệ NTD. Theo quy định của Luật BVQLNTD năm 2010, việc bảo vệ quyền lợi NTD được thực hiện theo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội”.
Trong mối quan hệ giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì NTD thông thường sẽ ở thế yếu hơn, thiếu thông tin, ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD (bên yếu thế). Một xã hội công bằng, văn minh thì mọi người cần phải được bình đẳng, đặc biệt là những người yếu thế như NTD cần được bảo vệ quyền lợi, được ghi nhận trong Luật BVQLNTD và được thi hành trong thực tế. Để làm được điều này, không chỉ một cá nhân hay một tổ chức thực hiện, mà cần có sự phối hợp của Nhà nước và toàn xã hội. Đây là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 4, Luật BVQLNTD năm 2010, nhằm khẳng định trách nhiệm bảo vệ NTD là trách nhiệm không của riêng ai.
Với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng tinh vi như hiện nay, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, kêu gọi mọi thành 12 phần trong xã hội phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD. Thứ hai, nguyên tắc “Quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 4, Luật BVQLNTD năm 2010, theo đó, quyền là những gì pháp luật quy định cho NTD được hưởng và thực hiện, không ai được tước đoạt hay xâm phạm những quyền và lợi ích hợp pháp đó11, bất cứ hành vi xâm phạm, gây thiệt hại cho NTD đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện nay cùng với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD vẫn còn diễn ra thì trên thực tế các quyền này của NTD vẫn chưa được bảo vệ triệt để.
Thứ ba, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật”. Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 3, Điều 4, Luật BVQLNTD năm 2010.