lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề án được kết cấu thành 03 Chương: - Phần 1. Cơ sở lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn cấp tỉnh - Phần 2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hà Nam - Phần 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hà Nam 7 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng và quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trên địa bàn cấp tỉnh 1.
Khái niệm và vai trò bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Tại Hoa Kỳ, người tiêu dùng được hiểu là “NTD là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình”, hoặc “người đang mua hoặc sẽ mua, thuê, hoặc nhận hàng hóa hoặc dịch vụ, bao gồm cả người cùng giao ước hoặc bảo đảm, hoặc người đang hoặc sẽ đưa ra yêu cầu đối với việc cung cấp một hoạt động thương mại; theo tính chất, được coi là NTD, chủ yếu vì mục đích sử dụng của cá nhân, hộ gia đình hoặc gia đình”. Tại Hàn Quốc, theo Khoản 1 Điều 2 Luật Khung về NTD của Hàn Quốc quy định “NTD là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp vì mục đích tiêu dùng hàng ngày hoặc hoạt động sản xuất được quy định bởi Nghị định của Tổng thống”. Tại Malaysia, theo Điều 3 (1) Luật Bảo vệ NTD năm 1999 (bản sửa đổi năm 2016) “NTD là người nhận hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử dụng trong hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng và không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vào mục đích thương mại, tiêu dùng cho quá trình sản xuất.” Tại Singapore, theo Điều 2 (1) Luật Bảo vệ NTD (2009) “NTD là cá nhân nhận hoặc có quyền nhận hàng hóa và dịch vụ từ nhà cung cấp hoặc có nghĩa vụ thanh toán cho nhà cung cấp đối với hàng hóa, dịch vụ mình đã mua tặng cho cá nhân khác và các hoạt động tiêu dùng đó không nhằm mục đích kinh doanh”.
Tại Việt Nam, khái niệm pháp lý về NTD được đề cập đến lần đầu tiên trong Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999. Sau này, khi Luật BVQLNTD năm 2010 được ban hành thay thế Pháp lệnh này, nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, khái niệm “Người tiêu dùng” vẫn được quy định như trong Pháp lệnh. Theo đó, Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.
Trong khái niệm này, NTD không chỉ là các cá nhân mà còn là tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà không nhằm mục đích bán lại hoặc cho thuê. Tuy nhiên theo Luật BVQLNTD sửa đổi năm 2023 (Khoản 1 Điều 3) thì “NTD là cá nhân mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và không vì mục đích thương mại” đã giới hạn đối tượng người tiêu dùng chỉ là “cá nhân” và không bao gồm “tổ chức”. Đề án tốt nghiệp thạc sĩ của học viên sử dụng khái niệm “Người tiêu dùng” theo Luật BVQLNTD năm 2023. Khái niệm và vai trò bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng * Khái niệm Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Từ khái niệm NTD, học viên xin đề xuất khái niệm về BVQLNTD như sau:“BVQLNTD là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan sử dụng các công cụ hợp pháp nhằm thúc đẩy, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD trong quá trình NTD giao dịch với các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bao gồm các cơ quan QLNN về BVQLNTD các cấp, các tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác được giao thẩm quyền hoặc có trách nhiệm trong việc thúc đẩy và BVQLNTD. Như vậy theo định nghĩa này thì BVQLNTD không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là của toàn xã hội và cộng đồng doanh nghiệp. Công cụ hợp pháp bao gồm hệ thống quy định pháp luật cho BVQLNTD (trong đó bao gồm các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp và các văn bản pháp luật điều chỉnh gián tiếp) và tổ chức bộ máy, nguồn lực thực hiện. Văn bản điều chỉnh trực tiếp như Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Văn bản điều chỉnh gián tiếp là các văn bản pháp luật điều chỉnh trong các lĩnh vực khác có liên quan đến quyền lợi NTD như Luật Giá; Luật Dược; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật An toàn thực phẩm; Luật Cạnh tranh; Luật An toàn thông tin mạng; Luật Giao dịch điện tử; Luật Quảng cáo. * Vai trò của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Tạo động lực quan trọng cho nền kinh tế phát triển ổn định: Khi quyền lợi cơ bản của NTD bị xâm phạm nghiêm trọng, đe dọa đến sức khỏe, an toàn và tính mạng của NTD. Nếu tình trạng này, không sớm được khắc phục, không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhân dân, mà còn suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội, đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy, BVQLNTD tạo động lực quan trọng cho nền kinh tế phát triển ổn định.
- Thúc đẩy hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức và cũng là các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Những vấn đề xã hội đối với quyền lợi của họ nảy sinh khi: hàng hóa có khuyết tật, không bảo đảm an toàn, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của họ… Khi những vấn đề này được giải quyết một cách triệt để NTD yên tâm mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ sẽ thúc đẩy hoạt động tiêu dùng hơn. - Khuyến khích xây dựng môi trường kinh doanh bền vững: Ở bất kỳ quốc gia nào, NTD luôn là nhóm đối tượng đông đảo được quan tâm nhiều nhất, là yếu tố 9 quan trọng, là động lực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của quốc gia. Chính vì vậy, trong tiến trình phát triển kinh tế của một nước, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội thì cũng cần hài hòa, đảm bảo lợi ích của NTD.
Hơn nữa, đối với riêng doanh nghiệp, để có thể phát triển bền vững thì cần lấy NTD làm trung tâm cho sự phát triển đó vì NTD mới là nguồn lực và là động lực chính cho sự phát triển của bất cứ tổ chức, cá nhân kinh doanh nào. Tuy nhiên, do việc thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn, nên NTD thường ở vị trí yếu thế hơn trong quan hệ mua, bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, với các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Chính vì vậy, việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NTD không chỉ thúc đẩy hoạt động tiêu dùng mà còn khuyến khích xây dựng môi trường kinh doanh bền vững. - Nâng cao đạo đức kinh doanh, hình thành văn hóa tiêu dùng an toàn, văn minh, lành mạnh và bền vững đồng thời khuyến khích, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, lưu thông, phân phối, xuất, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công nghệ thân thiện môi trường hướng đến kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn nâng cao lợi ích của NTD.
- Hỗ trợ tổ chức, cá nhân ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ tiên tiến, mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc để sản xuất, cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ an toàn, chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Khái niệm và các công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn cấp tỉnh 1. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn cấp tỉnh Từ các khái niệm nêu trên và khái niệm quản lý nhà nước nói chung, “QLNN về BVQLNTD là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của các tổ chức, cá nhân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” (khái niệm của Hoàng Phê (2003)) có thể hiểu QLNN về BVQLNTD như sau: “QLNN về BVQLNTD là việc cơ quan QLNN sử dụng các công cụ quản lý như pháp luật và hệ thống bộ máy, tổ chức QLNN nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD”. Từ khái niệm cho thấy: - Cơ quan QLNN về BVQLNTD ở đây, theo quy định của pháp luật BVQLNTD, bao gồm: ở Trung ương là Bộ Công Thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ NTD; ở địa phương cấp tỉnh là UBND cấp tỉnh, Sở Công Thương; ở địa phương cấp huyện là UBND cấp huyện, Phòng Kinh tế/Phòng Kinh tế hạ tầng; ở địa phương cấp xã là UBND xã, phường, thị trấn.
10 - Trong đề án tốt nghiệp thạc sĩ này, cụm từ “trên địa bàn cấp tỉnh” là với nghĩa hoặc thay cho cụm từ “trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Cụm từ này đã được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật hiện hành, đặc biệt tại Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (Luật số 77/2015/QH13 ngày 19/06/2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương) đã quy định: Các đơn vị hành chính của nước CHXHCN Việt Nam gồm có: 1.