CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ DU LIEU CÁ NHÂN TRONG BOI CANH SO HOÁ HOAT ĐỘNG NGAN HÀNG 1. Khái quát chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại dữ liệu cá nhân 1. Khái niệm và đặc điểm a.
Khai niệm Hướng dan bao vệ quyền riêng tư và dich chuyển dit liệu cá nhân giữa các quốc gia (1980) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hiệp ước Bảo vệ đữ liệu cá nhân liên quan đến xử lý tự động dữ liệu cá nhân (1981) của Hội đồng châu Âu là những văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm “dữ liệu cá nhân” (personal data) và gắn nó với bảo vệ quyên riêng tư. Với cách tiếp cận đó, đến nay, nhiều văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các quốc gia đã đưa ra một số thuật ngữ tương đồng. Phổ biến nhất, thuật ngữ dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhận dang cá nhân (personally identifiable data - PID) được sử dụng phổ biến ở châu Âu. Thuật ngữ thông tin nhận dạng cá nhân (personally identifiable information - PII) được sử dụng phổ biến ở Mỹ.
Thuật ngữ thông tin cá nhân được sử dụng ở Australia, Nhật Bản, Canada và một số nước châu Á. Tuy nhiên, khái niệm giữa các văn bản vẫn còn sự khác biệt nhất định. GDPR- Quy định chung về bảo mật thông tin khối các nước châu Âu định nghĩa: “Dữ liệu cá nhân” có nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân được xác định hoặc có thể xác định (tức là “dữ liệu cá nhân”); một cá thể tự nhiên có thé xác định được là người bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc xác định tên, số định danh, di liệu vi trí, một hoặc nhiều yếu tố cụ thể liên quan đến danh tính vật lý, sinh lý, genetic, tâm lý, kinh tế, văn hóa hoặc xã hội của cá nhân đó.3 Định nghĩa này giải thích rang dir liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào có thé được sử dụng riêng hoặc kết hợp với thông tin khác để xác định, liên lạc hoặc xác định vi trí của một cá nhân. > The GDPR (Article 4): “Personal data” means any information relating to an identified or identifiable natural person (“data subject”); an identifiable natural person is one who can be identified, directly or indirectly, in particular by reference to an identifier such as a name, an identification number, location data, an online identifier or to one or more factors specific to the physical, physiological, genetic, mental, economic, cultural or social identity of that natural person;” Tại Hoa Kỳ, dữ liệu cá nhân chịu sự điều chỉnh của nhiều luật và quy định khác nhau, tùy thuộc vào khu vực hoặc tiểu bang.
Đạo luật bảo vệ dữ liệu người tiêu dùng (CDPA) của Virginia đối với đữ liệu cá nhân chung định nghĩa: “Dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào được liên kết hoặc có thê liên kết hợp lý với một cá nhân đã được xác định hoặc có thê nhận dạng. Dữ liệu cá nhân không bao gồm dữ liệu không được xác định được danh tính hoặc thông tin công khai có sẵn.” Bên cạnh đó còn có thể kế đến: Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLBA) cho dtr liệu tài chính; Đạo luật Bảo vệ và Dinh tuyên Sức khỏe (HIPAA) cho dữ liệu sức khỏe; Đạo luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng California (CCPA). Các đạo luật này định nghĩa dữ liệu cá nhân là bất kỳ thông tin nào có thể xác định, liên lạc hoặc xác định vi trí của một ca nhân, chăng hạn như: * Tên, địa chỉ, số điện thoại * Số an sinh xã, số giấy phép lái xe * Thong tin tài khoản * Thông tin sức khỏe, y tế hoặc di truyền * Dữ liệu sinh trắc (ví dụ như nhận dạng khuôn mặt) Tại Singapore, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (PDPA) 2012 định nghĩa: “Dữ liệu cá nhân là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tô chức có hoặc có thé có quyền truy cập”Š Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP: “Dữ liệu cá nhân là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gan liền với một con nguoi cu thé hoặc giúp xác định một con nguoi cu thé. Dữ liệu cá nhân bao gôm dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm”.
Như vậy, có thé hiểu DLCN là moi thông tin liên quan đến một người cụ thé. Thông tin này thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số,. và thông tin này cụ thể là: tên, địa chỉ, số điện thoại, địa chỉ email, thông tin tài khoản ngân hàng, hình 4 The VCDPA: “Personal data as any information that is linked or reasonably linkable to an identified or identifiable natural person. Personal data does not include de-identified data or publicly available information” > The PDPA: “Personal data refers to data about an individual who can be identified from that data, or from that data and other information to which the organisation has or is likely to have access” 10 ảnh, dữ liệu y tế, hay bất kỳ thông tin nào có thể dùng để nhận diện một người cụ thé.
Dữ liệu là t6 chức thấp hơn của thông tin, dit liệu được tô chức, xử lý, biểu diễn, kết hợp lại để tạo thành thông tin. Ví dụ: Số điện thoại bản thân nó không có giá trị thông tin gì, nó chỉ là con số (đữ liệu), nhưng nếu số điện thoại lại gắn kết với một người cụ thể có tên tuổi, chức vụ, nó sẽ cung cấp về thông tin về một con người cụ thể, lúc đó các con số này mới có giá tri (tính bí mật, tính riêng tư. Đặc điểm Thứ nhất, DLCN là tổ hợp thông tin cá nhân. Mỗi một cá nhân mang DLCN cụ thê, gắn liền với cá nhân đó kết từ khi sinh ra.
Cá nhân mang DLCN là một cá nhân nhất định, xác định được và quan trọng nhất là phải đang còn sống. Đặc điểm này nhằm loại trừ những dữ liệu không phải là DLCN như thông tin của tổ chức, thông tin của người đã chết. Mỗi người có một hồ sơ thông tin cá nhân riêng và duy nhất, tuy nhiên, việc quản lý và bảo vệ thông tin này ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh phát trién mạnh mẽ của công nghệ và internet. Thứ hai, DLCN được sử dụng dé nhan dang, xac dinh, dinh danh ca nhan trong các mối quan hệ xã hội.
Ý nghĩa của DLCN nam ở khả năng cung cấp thông tin cụ thể và đặc biệt về cá nhân, giúp tạo ra sự nhận biết và xác thực trong các tình huống khác nhau. Các thông tin như tên, địa chỉ, số điện thoại, và các đặc điểm cá nhân khác trong DLCN không chỉ hỗ trợ quá trình xác định danh tính một cách chính xác mà còn tạo nên cơ sở đữ liệu quan trọng để quản lý thông tin về mối quan hệ và tương tác xã hội. Thứ ba, DLCN tôn tại trong nhiều hình thức đa dạng. DLCN có thể hiện diện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh, hoặc các dạng tương tự trên nền tảng điện tử.
Thứ tu, DLCN không chỉ có đặc điểm nhận diện như một phan của quyền nhân thân, mà còn mang đặc điểm của một loại tài sản mới. Việc quy định và bảo vệ DLCN đòi hỏi sự cân trọng, vì nêu DLCN được xem xét là đối tượng của quyền nhân thân, thì can áp dung các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân. Ngược lại, nếu DLCN được xem xét là tài sản, thì cần áp dụng các phương thức bảo vệ có tính chất tài sản, như kiện đòi tài sản hoặc kiện yêu cầu bồi thường. Điều này đặt ra một thách thức trong việc xác định và quy định chính xác về tính chất và quyền lợi liên quan đến DLCN và bảo vệ DLCN.
Phân loại Can cu vào tính bí mat của DLCN, có thể chia thành: DLCN công khai là những DLCN cơ bản do các CQNN nắm giữ để phụ vụ lợi ích công. Loại DLCN nay được sử dụng nhằm hướng đến việc Nhà nước có thé dé dang quản ly công dân của đất nước mình. Những DLCN công khai như: họ tên, ngày thang năm sinh, dia chỉ cư trú,. DLCN bảo mật, là những DLCN không được phép công khai hoặc chi được cung cấp cho những chủ thé thực hiện nhiệm vụ đặc biệt.
Như số tài khoản ngân hàng, những dữ liệu liên quan đến thông tin tài chính, thông tin mật đời sống riêng tu,. Căn cứ vào mối liên hệ giữa các loại dit liệu, có thể chia thành: DLCN có liên kết là loại đữ liệu phải kết hợp với các DLCN khác mới có thê xác định được | ca nhân. DLCN độc lập là dit liệu không liên kết với các DLCN khác. Chỉ cần một DLCN độc lập có thé xác định được cá nhân đó.
Vi dụ như dé liệu về giới tinh, tính cach,. Căn cứ vào kết cấu tao lap đữ liệu, có thể chia thành: DLCN đơn giản là loại dữ liệu dễ nhớ, ít kí tự, con SỐ, ký hiệu. Những dữ liệu này không còn được sử dụng quá nhiều bởi nó hạn chế việc khai thác của người sử dụng, không đáp ứng được nhu cầu trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay. DLCN phức tạp là loại dữ liệu có phạm vi sử dụng rộng hơn, mang lại nhiều thông tin hơn.
Vi dụ như DLCN về đặc điểm cá nhân, tình trạng hôn nhân, tôn giáo,. Căn cứ vào phương thức thu thập, có thé chia thành: DLCN cấp phát định danh bởi các chủ thé khác là những dit liệu được chủ thé khác cấp phát cho mỗi cá nhân bảo đảm việc thực hiện quyên, nghĩa vụ của cá nhân. Ví dụ: số tài khoản ngân hàng, CCCD/CMND. DLCN xuất phát từ chính bản thân chủ thể mang dữ liệu là những dữ liệu có được từ các đặc điểm của chủ thé như giới tính, cân nặng, chiều cao,.
những dữ liệu này là của mỗi cá thê riêng biệt, xác định họ là cụ thể và duy nhất. 12 Căn cứ vào khả năng tác động của dit liệu tới đời sống tâm lý con người, có thể chia thành: DLCN co ban là những dữ liệu được ghi lại nhằm định danh một cá nhân, phục vụ cho nhiều hoạt động quản lý của nhà nước. Ví dụ: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, trình độ học vẫn,. DLCN nhạy cảm là những dit liệu về một cá nhân cụ thé mà khi những dit liệu này bị thu thập, sử dụng, chuyển giao trái phép sẽ gây tôn hại đến cá nhân đó.
Vi dụ: sinh trắc học, tài chính,.