CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC NỀN TẢNG Chƣơng này giới thiệu tổng quan về quy trình nghiệp vụ và kỹ thuật mô hình hóa PMN. Tiếp đó là phần diễn giải về mô hình truy cập thuộc tính A AC. Cuối cùng chƣơng giới thiệu về công cụ hỗ trợ việc quản lý mô hình PMN và các cơ chế điều khiển truy cập. Giới thiệu tổng quan về quy trình nghiệp vụ Thông thƣờng trong thời gian hàng ngày, các hoạt động của các cá nhân đều là một phần của các quy trình khác nhau.
Ví dụ, khi ta đặt mua một cuốn sách trong một cửa hàng sách online thì khi đó một quy trình đƣợc thực thi gồm việc thanh toán, đóng gói và tới việc vận chuyển sách cho ngƣời mua. Phần đầu chƣơng trình bày về các khái niệm quy trình nghiệp vụ cùng với các cách thức để mô hình quy trình trong nghiệp vụ thực tế. Khái niệm quy trình nghiệp vụ Quy trình – Process – đƣợc định nghĩa là một loạt các hành động/hoạt động có kết thúc; một loạt các hoạt động liên tiếp nhau hoặc các ứng xử đặc biệt trong quá trình sản xuất. Quy trình nghiệp vụ tồn tại song hành cùng quá trình kinh doanh/nghiệp vụ - Business - của một doanh nghiệp, một tổ chức.
Quy trình nghiệp vụ thƣờng đƣợc đề cập tới việc cách tổ chức các hoạt động tạo ra giá trị. Để quản lý các quy trình nghiệp vụ của một tổ chức nói chung, cần thiết phải mô tả và tài liệu hóa. Có rất nhiều cách thức để thực hiện, tuy nhiên, cách dễ dàng và đơn giản nhất là sử dụng mô tả dạng văn bản hay dạng bảng. Các biểu đồ luồng thƣờng đƣợc tạo ra bằng cách sử dụng các phần mềm về trình diễn và đồ họa.
Các biểu đồ này hầu hết đều chứa các hình hộp và các mũi tên, không tuân theo một phƣơng thức cụ thể nào. Do đó, dẫn đến không đáp ứng đƣợc các yêu cầu về việc biểu diễn các quy trình theo các khía cạnh nhƣ quy tắc, sự kiện, các đơn vị tổ chức, luồng dữ liệu. Tuy nhiên, khi mô hình các quy trình nghiệp vụ các tác nhân thực hiện nghiệp vụ, ngƣời phân tích quy trình nghiệp vụ, ngƣời phát triển kỹ thuật và ngƣời quản lý nghiệp vụ gặp khó khăn trong việc hiểu ý tƣởng của nhau [9]. Hơn nữa, chính những nhà phân tích nghiệp vụ của các tổ chức khác nhau, nhiều khi cũng không z thể giao tiếp trong quá trình Liên thông các quy trình nghiệp vụ với nhau.
Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải có các ký hiệu (notation) chung tƣơng ứng biểu diễn các phần tử nghiệp vụ nhƣ các sự kiện, hoạt động, luồng dữ liệu, các đơn vị tổ chức. Một tập các ký hiệu về mô hình hóa quy trình nghiệp vụ theo đồ họa xác định các biểu tƣợng cho các phần tử quy trình nghiệp vụ, ý nghĩa cũng nhƣ các khả năng kết hợp của chúng. Mô hình quy trình nghiệp vụ BPMN Tiêu chuẩn Ký hiệu và mô hình hóa quy trình nghiệp vụ ( PMN) với mục đích chính là làm cầu nối khoảng cách về thông tin giữa các bên liên quan thƣờng xuyên xảy ra trong việc thiết kế và triển khai quy trình nghiệp vụ [9], đã và đang đƣợc sử dụng rộng rãi để mô hình hóa quy trình nghiệp vụ trong nhiều tổ chức. PMN hỗ trợ cho cả ngƣời dùng kỹ thuật và ngƣời dùng nghiệp vụ trong việc quản lý các quy trình nghiệp vụ bằng cách đƣa ra một tập các ký hiệu chung, có tính trực quan và dễ hiểu cho ngƣời dùng nghiệp vụ.
Một cách đơn giản, ta hãy quan sát một ví dụ Hình 1. inh h về mô hình hó quy trình nghi p vụ. Lịch sử phát triển của BPMN an đầu, PMN đƣợc phát triển bởi Tổ chức Sáng kiến quản lý quy trình nghiệp vụ ( PMI), một tổ chức gồm các công ty về phần mềm [9]. Ở giai đoạn khởi đầu, mục tiêu là cung cấp một tập các ký hiệu đồ họa mô tả quy trình đƣợc thể z hiện trong Ngôn ngữ mô hình hóa quy trình nghiệp vụ ( PML).
So với PEL, PML đƣợc sử dụng để xác định các mô tả quy trình có thể đƣợc thực thi bởi một BPMS, PML không đƣợc tiếp tục phát triển nữa [9][4]. Phiên bản đầu tiên của PMN đƣợc phát triển bởi nhóm của Stephen A. Trong thời gian này, PMI đã trở thành một nhóm thuộc Tổ chức quản lý đối tƣợng (OMG). Tổ chức OMG là một tổ chức nổi tiếng về các tiêu chuẩn phần mềm, đặc biệt là UML.
Năm 2006, PMN phiên bản 1.0 chính thức đƣợc chấp nhận là một tiêu chuẩn của tổ chức OMG. Sau đó, OMG công bố phiên bản PMN v1.1 vào tháng 01/2008 và công bố BPMN v1.2 vào tháng 01/2009 với một số thay đổi nhỏ. Phiên bản PMN v2.0 với nhiều thay đổi và mở rộng so với các phiên bản cũ, đã đƣợc OMG công bố vào tháng 01/2011. Phiên bản gần đây nhất là PMN v2.2 đƣợc OMG công bố tháng 12/2013.
Nội dung phiên bản PMN v2.2 không khác biệt nhiều so với PMN v2.0, chỉ chỉnh sửa một số lỗi nhỏ về văn bản. Trong năm 2013, PMN cũng chính thức trở thành tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 19510:2013. Các phần tử (element) của BPMN Các phần tử của PMN đƣợc phân thành 5 loại cơ bản sau [9]: - Các đối tƣợng luồng (Flow Objects): là các phần tử đồ họa chính định nghĩa hành vi của một Quy trình nghiệp vụ. Có ba đối tƣợng luồng gồm Sự kiện (Event); Hoạt động (Activity); Cổng (Gateway).
Activity tập trung trả lời câu hỏi làm gì. Tức là mô tả tất cả các công việc trong quy trình. Activity gồm 04 loại: Task - là từng việc chi tiết, tập các task thành một quy trình lớn; Transaction - là các giao dịch, gồm nhiều task mà các task này liên hệ logic với nhau; Sub-Process - là các quy trình con, hiểu đơn giản là quy trình nhỏ trong quy trình lớn; Call Activity - là hàm gọi, thực hiện gọi một sub process nào đó. Thành phần Gateways là bộ phận logic mà luồng của hệ thống sẽ thay đổi tùy vào các điều kiện khác nhau.
- Swimlanes: có hai cách thức để nhóm các phần tử mô hình hóa chính thông qua Swimlanes là Pool và Lane, trong đó, Pool là biểu diễn đồ họa của một Thành phần tham gia còn Lane là một phân vùng thuộc một Process (đôi khi thuộc một Pool). Đây là linh hồn của PMN, hiểu một cách khác: Pool thể hiện một tổ chức, một bộ phận, một phòng ban, một vai trò hay một hệ thống nào đó. Lane thể hiện là một cá nhân, một chủ thể riêng l , ngƣời sẽ thực hiên các hoạt động cụ thể nào đó. - Dữ liệu (Data): đây là thành phần quan trọng của bất cứ quy trình nào.
Data đƣợc biểu diễn với bốn phần tử là Đối tƣợng dữ liệu (Data Object) – nhƣ là tài liệu, z email, form; Đầu vào (Data Input) – dữ liệu để hoàn thành một hành động nào đó; Đầu ra (Data Output) – dữ liệu trả ra của một hành động; Kho dữ liệu (Data Object Collection) – thể hiện một tập, một loạt hay một danh sách thông tin. - Đối tƣợng kết nối (Connecting Object): Có bốn cách kết nối các Đối tƣợng luồng với nhau hoặc với thông tin khác, cụ thể gồm: Luồng tuần tự (Sequence Flow) – thể hiện luồng đi của quy trình; Luồng thông điệp (Message Flow) – luồng thông tin đƣợc trao đổi giữa các Lane hoặc các Pool; Liên kết (Association); Liên kết dữ liệu (Data Association). - Artifacts: đƣợc sử dụng để cung cấp thông tin bổ sung về Quy trình. Có hai artifact tiêu chuẩn nhƣng những nhà mô hình hóa hay công cụ mô hình hóa có thể tự do thêm các Artifact khi cần thiết.
Hiện tại, tập artifact gồm: Group và Text Annotation.0 xác định các phần tử mô hình hóa cơ bản và ký hiệu của chúng nhƣ Bảng 1.1 – D nh sách các phần tử mô hình hó cơ bản và ký hi u STT Phần tử Ký hiệu 1. Luồng tuần tự (sequence flow) 5. Luồng thông điệp (message flow) 6. Làn/ phân vùng (pool) 8.
Làn/ phân vùng (lane) z 9. Đối tƣợng dữ liệu (data object) 10. Chú thích (notation – đi kèm liên kết) Ngoài các phần tử mô hình hóa cơ bản nói trên, PMN v2.0 còn có một số phần tử mô hình hóa mở rộng, tham khảo thêm tại Mục 7. Các mô hình thành phần của BPMN Quy trình (Process) là một khái niệm cơ bản trong PMN.
Một Process mô tả một chuỗi hay một dòng gồm nhiều Hoạt động (Activity) trong một tổ chức với mục đích thực hiện công việc. Trong PMN, một Quy trình đƣợc mô tả là một hình ảnh về chuỗi các Phần tử (Element) chứa một tập các Hoạt động, Sự kiện (Event), Cổng (Gateway) và là chuỗi có trình tự xác định ngữ nghĩa thực thi. Các Quy trình có thể đƣợc định nghĩa ở mức độ bất kỳ, có thể là Quy trình mức cao có phạm vi toàn tổ chức hay cũng có thể là Quy trình mức thấp và đƣợc thực hiện bởi một cá nhân. Các Quy trình mức thấp có thể đƣợc nhóm lại với nhau để đạt đƣợc một mục tiêu nghiệp vụ chung.
Mô hình hóa usiness Process (Quy trình nghiệp vụ) đƣợc sử dụng để truyền tải một lƣợng lớn các thông tin đến nhiều đối tƣợng ngƣời đọc khác nhau. PMN đƣợc thiết kế bao gồm nhiều kiểu mô hình hóa và cho phép việc tạo ra các Quy trình nghiệp vụ điểm-điểm. Các phần tử có cấu trúc của PMN cho phép nhiều ngƣời đọc có thể hiểu dễ dàng sự khác biệt giữa các phần của biểu đồ PMN. Có 03 kiểu mô hình thành phần cơ bản trong mô hình PMN điểm-điểm: - Processes hay Orchestration (Điều phối), bao gồm: + Quy trình nghiệp vụ riêng (nội bộ) là những quy trình nội bộ của một tổ chức cụ thể.
Những quy trình này có thể đƣợc gọi chung là luồng công việc (workflow) hay quy trình PM. Một từ đồng nghĩa thƣờng đƣợc sử dụng trong các dịch vụ Web là Điều phối (Orchestration) các dịch vụ. Có 2 loại quy trình nghiệp vụ riêng là: Quy trình riêng không thể thực thi (là một quy trình đƣợc mô hình hóa phục vụ z mục đích tài liệu hóa hành vi của quy trình ở mức chi tiết đƣợc xác định bởi ngƣời mô hình hóa) và Quy trình nghiệp vụ riêng có thể thực thi (là một quy trình đƣợc mô hình hóa phục vụ mục đích đƣợc thực thi theo ngữ nghĩa xác định). trình bày Quy trình nghiệp vụ riêng (nội bộ) của một công ty A về việc tuyển dụng nhân viên mới.
Kiểm tra hồ Đặt lịch Tiến hành Đánh giá Nhận hồ sơ sơ ứng viên phỏng vấn phỏng vấn năng lực Thông báo Quyết định kết quả tuyển dụng ình 1. inh h về Quy trình nghi p vụ riêng.