phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay XNK của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay XNK tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đà Nẵng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay XNK tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trên tinh thần kế thừa và phát huy, luận văn đã tham khảo một số đề tài tƣơng tự và dựa trên các văn bản, thông tƣ, nghị định hƣớng dẫn về BĐTD của NHNN, chính phủ để tìm ra biện pháp để thống nhất và hoàn thiện công tác BĐTD trong cho vay XNK tại ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đà Nẵng.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Lƣu Thị Hồng Hạnh (2011): “Thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội” đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, trong đó nhấn mạnh vào khía cạnh pháp lý của hoạt động này. Đề tài đã phân 4 tích, đánh giá thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, có nhấn mạnh trọng tâm vào khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ và khía cạnh pháp lý của hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Quân Đội. Từ đó tác giả đã đề xuất một số kiến nghị (tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, nghiệp vụ và pháp lý) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. Luận văn thạc sỹ tác giả Lƣơng Minh Trí (2011): “Bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng”.
Tác giả tập trung nghiên những vấn đề về bảo đảm tiền vay (cả có tài sản và không có tài sản) tại Chi nhánh NH NN&PTNT Quận Sơn Trà nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận về bảo đảm tiền vay. Đồng thời, tác giả còn nghiên cứu thực tế về chất lƣợng của công tác bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng NN &PTNT Quận Sơn Trà để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh. Luận văn của thạc sỹ Lê Thị Uyên Sa (2013): “ Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp& phát triển nông thông tỉnh Quảng Nam”. Tác giả đã trình bày gần nhƣ đầy đủ về công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản từ quy trình, vai trò cũng nhƣ các tiêu chí đánh giá kết quả công tác BĐTV bằng tài sản.
Tuy nhiên ở chƣơng một, tác giả chủ yếu trình bày dựa trên các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay mà chƣa thể hiện đƣợc tầm lý luận của chƣơng này. Luận văn của thạc sỹ Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2012): “Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng TMCP Đầu tư& Phát triền Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy”. Trong phần chƣơng một, tác giả đã trình bày đầy đủ về công tác BĐTV bằng tài sản từ vai trò, đặc trƣng đến quy trình, song chƣa trình bày đến các tiêu chí đánh giá công tác BDDTV bằng tản sản. 5 Ngoài ra, trong thời gian qua cũng đã có nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề BĐTV nhƣ: “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực tiễn” (ThS Nguyễn Thùy Trang, Tạp chí Ngân hàng, số 23/2010); “Thực tiễn cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Trần Minh Sơn, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 128 – năm 2008); “Bàn về đánh giá tài sản đảm bảo tiền vay hiện nay”, (ThS Huỳnh Kim Trí , Cổng thông tin điện tử Vietinbank - 2012).
Tuy nhiên, các công trình trên chỉ dừng lại ở tổng kết thực tiễn chứ chƣa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về bảo đảm tín dụng. Mặt khác, những công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ tập trung làm rõ vấn đề về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, đa số các đề tài tập trung nghiên cứu về những khía cạnh pháp lý của vấn đề bảo đảm tín dụng. Một số vấn đề các đề tài trƣớc chƣa tập trung nghiên đó là: nội dung công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay xuất nhập khẩu, những tiêu chí đánh giá kết quả công tác bảo đảm tín dụng trong cho vay xuất nhập khẩu.Vì mỗi hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ có những nét đặc trƣng khác nhau về công tác bảo đảm tín dụng do đó tôi chọn nghiên cứu đề tài trên. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG CHO VAY XNK 1.
KHÁI QUÁT VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM 1. NHTM và hoạt động cho vay của NHTM a. Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các trung gian tài chính quan trọng. Hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại nhƣ là huyết mạch, đóng góp vô cùng to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế.
Do đó, rất nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu về ngân hàng và cho ra những định nghĩa khác nhau về NHTM. Có nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM: Theo Peter S.Rose: ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dich vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng 2010 số 47/2010/QH12, “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Những hoạt động chính của NHTM: Hoạt động tạo vốn Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động dịch vụ: ….
Hoạt động cho vay của NHTM Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của bất kỳ một ngân hàng thƣơng mại. Một trong những hoạt động tín dụng chủ yếu, truyền thống 7 của các ngân hàng thƣơng mại là cho vay. Đây là hoạt động mang lại thu nhập chính cho Ngân hàng thƣơng mại nhƣng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Về hoạt động cho vay, căn cứ theo khoản 16 Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Nguyên tắc cho vay: - Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trƣớc khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng nhƣ mục đích đã cam kết hay không. Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này.
Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra đƣợc ngân lƣu để trả nợ cho ngân hàng. Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp khách hàng đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này. - Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay.
Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của 8 nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong một thời gian nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. - Vốn vay phải có bảo đảm tiền vay Thực chất của nguyên tắc này là sự đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản. Nói cụ thể, bảo đảm ở đây vừa là nguồn thu nợ vừa tác động đến nghĩa vụ trả nợ, ngăn chặn tình trạng lạm dụng, sử dụng vốn thiếu tính toán của khách hàng; đồng thời có tác dụng phòng ngừa rủi ro trong cho vay, giảm nhẹ tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không thanh toán đƣợc nợ.
Tùy theo mức độc tín nhiệm của khách hàng mà ngân hàng quyết định khách hàng thực hiện biện pháp bảo đảm tài sản hoặc không có tài sản hoặc kết hợp cả hai. Phân loại cho vay: Có thể phân loại cho vay theo nhiều tiêu thức khác nhau: - Căn cứ vào thời hạn cho vay + Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục đích của loại cho vay này nhằm bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp nhƣ: bổ sung ngân quỹ, ứng trƣớc tiền hàng, duy trì hàng tồn kho…hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. + Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.