Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa trong du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, Gia Lai

Luận văn nghiên cứu giải pháp bảo vệ di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại làng Mơ Hra, Gia Lai. Phân tích và đề xuất.

Chuyên ngành

Di sản học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiểu rõ giá trị di sản văn hóa làng Mơ Hra

Làng Mơ Hra tại xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai sở hữu kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú từ các dân tộc Bahnar. Những giá trị này không chỉ là di sản vật chất mà còn bao gồm các thực hành văn hóa truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế kỷ. Bảo vệ di sản văn hóa đòi hỏi phải hiểu sâu sắc những đặc trưng văn hóa độc đáo của cộng đồng địa phương. Sự gắn kết giữa người dân và những giá trị truyền thống là nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững. Du lịch cộng đồng không chỉ mang lại lợi tức kinh tế mà còn là công cụ hữu hiệu để bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu này cho thế hệ tương lai.

1.1. Đặc trưng văn hóa độc đáo của người Bahnar

Người Bahnar sở hữu nền văn hóa độc đáo thể hiện qua âm nhạc cồng chiêng, kiến trúc nhà rông và thủ công mỹ nghệ truyền thống. Những yếu tố này tạo nên bản sắc riêng biệt và hấp dẫn du khách. Bảo vệ giá trị văn hóa Bahnar qua du lịch cộng đồng giúp duy trì sự sống động của những truyền thống này.

1.2. Các loại di sản văn hóa cần được bảo vệ

Di sản văn hóa tại làng Mơ Hra bao gồm: âm nhạc cồng chiêng, kiến trúc nhà sàn truyền thống, nghề dệt thổ cẩm và ẩm thực truyền thống. Mỗi lĩnh vực đòi hỏi chiến lược bảo vệ riêng biệt để đảm bảo tính nguyên vẹn và độc đáo.

II. Vai trò của du lịch cộng đồng trong bảo vệ di sản

Du lịch cộng đồng là mô hình phát triển bền vững giúp kết nối giữa bảo vệ di sản văn hóa và lợi ích kinh tế của cộng đồng địa phương. Khi cộng đồng nhận được những lợi ích trực tiếp từ hoạt động du lịch, họ có động lực mạnh mẽ để bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo như trải nghiệm sống với gia đình địa phương, học tập các kỹ năng thủ công truyền thống. Mô hình này không chỉ giữ gìn văn hóa mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo cơ hội việc làm và phát triển kỹ năng cho người dân.

2.1. Tăng cường nguồn lực bảo vệ di sản thông qua du lịch

Thu nhập từ hoạt động du lịch cộng đồng cung cấp nguồn lực tài chính để bảo vệ và khôi phục di sản. Cộng đồng có thể đầu tư vào bảo tồn nhà rông, phát triển các dự án hướng dẫn du lịch chuyên nghiệp. Phát triển bền vững du lịch cộng đồng đảm bảo tài nguyên luôn được dòng ra cho công tác bảo vệ di sản lâu dài.

2.2. Nâng cao nhận thức thế hệ trẻ về di sản văn hóa

Du lịch cộng đồng tạo cơ hội để thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động du lịch, giới thiệu giá trị di sản với du khách. Qua đó, họ nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của bảo tồn di sản văn hóa và trở thành những người đưa ra quyết định bảo vệ trong tương lai.

III. Những thách thức và giải pháp trong bảo vệ di sản qua du lịch

Mặc dù du lịch cộng đồng mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại các thách thức trong việc bảo vệ di sản văn hóa. Tác động của du lịch mass-market có thể làm thay đổi tính nguyên bản của các thực hành văn hóa, gây sóc văn hóa cho cộng đồng. Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại làng Mơ Hra cần có quản lý khôn khéo để cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và bảo vệ giá trị văn hóa. Điều này đòi hỏi sự tham gia chủ động của cộng đồng, hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước và các chuyên gia di sản học.

3.1. Tác động tiêu cực và cách phòng chống

Sự gia tăng lượng khách du lịch có thể gây áp lực lên di sản văn hóa nếu không được quản lý phù hợp. Bảo vệ di sản đòi hỏi đặt giới hạn lượng khách, quy định hành vi du khách, và tập huấn hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp để giảm thiểu tác động tiêu cực.

3.2. Xây dựng cộng đồng chủ thể trong bảo vệ di sản

Cộng đồng địa phương phải trở thành chủ thể chính trong các quyết định liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Cần tăng cường đối thoại, lắng nghe tiếng nói của người dân và đảm bảo họ nhận được lợi ích công bằng từ du lịch cộng đồng.

IV. Chiến lược phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại làng Mơ Hra

Chiến lược bảo vệ di sản văn hóa qua du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra cần được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc của sự tham gia cộng đồng, hỗ trợ chính sách và nâng cao năng lực. Phát triển bền vững du lịch cộng đồng yêu cầu hợp tác chặt chẽ giữa cộng đồng địa phương, chính quyền địa phương, các cơ quan văn hóa và các chuyên gia di sản học. Cần xây dựng các tiêu chí chất lượng du lịch, chương trình đào tạo hướng dẫn viên, và quy tắc ứng xử du khách. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Bahnar cho các thế hệ tương lai.

4.1. Các dự án cụ thể bảo vệ di sản tại làng Mơ Hra

Xây dựng trung tâm học tập thủ công truyền thống, bảo tồn kiến trúc nhà rông, tài trợ các hoạt động duy trì âm nhạc cồng chiêng là những dự án bảo vệ di sản cụ thể. Các hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra nên tích hợp các dự án này để tạo sản phẩm du lịch độc đáo và bền vững.

4.2. Giám sát và đánh giá tác động của du lịch lên di sản

Cần thiết lập hệ thống giám sát tác động của du lịch lên giá trị di sản văn hóa thông qua các chỉ tiêu đã được định sẵn. Phát triển du lịch cộng đồng bền vững đòi hỏi đánh giá định kỳ để điều chỉnh chiến lược và đảm bảo bảo vệ di sản được duy trì lâu dài.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu của các học giả nước ngoài - Các nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được UNESCO quan tâm từ rất sớm.

Năm 1972, UNESCO đã thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Tiếp tục tới năm 2003 là Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Theo đó rất nhiều di sản văn hóa và thiên nhiên, di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được ghi danh và được các quốc gia cùng cộng đồng sở hữu di sản có những chính sách, hoạt động thực tiễn để bảo vệ và phát huy giá trị. Trong sự chuyển biến đó, về mặt học thuật, nhiều học giả đã đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Cụ thể hai tác giả Brian Garrod và Alan Fyall trong nghiên cứu Managing heritage tourism (Quản lý du lịch di sản) đã khẳng định rằng cần có sự cân bằng giữa việc bảo tồn và khai thác, các nhà quản lý di sản cần đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững để tài nguyên văn hóa, tài nguyên di sản được duy trì lâu dài và không bị xâm hại, có như vậy việc khai thác mới được lâu dài và hiệu quả vững bền (Brian Garrod và Alan Fyall, 2000) Công trình Cultural Tourism - The Partnership Between Tourism and Cultural Heritage Management (Du lịch văn hóa - Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý văn hóa), xuất bản năm 2002 của tác giả Bob McKercher và Hilary Du Cros khẳng định rằng công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa là việc chăm sóc có hệ thống, bài bản nhằm mục đích giữ gìn những giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa cho hiện tại và tương lai. Như vậy, quản lý di sản trong bối cảnh hiện nay là bảo vệ di sản đó một cách lâu dài, bền vững một cách có hiệu quả và phù hợp với điều kiện tình hình thực tế. (Bob McKercher and Hilary du Cros, 2002) Hai nhà bảo tàng học Trung Quốc là Uyển Lợi và Cố Quân với bài viết “Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và những nguyên tắc nên theo” đã ví việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể giống như “nuôi cá trong ao”, nên điểm mấu chốt là phải tạo ra một môi trường khách quan thích hợp với sự sinh trưởng. Môi trường tốt, dinh dưỡng đủ, cá sẽ sinh trưởng nhanh, còn nếu quên đi môi trường và dinh dưỡng thì cá sẽ chết (Uyển Lợi và Cố Quân, 2007).

8 Các nghiên cứu về du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng hình thành và phát triển ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc từ những năm 1980. Từ những năm 1990, khái niệm này đã thực sự phổ biến. Nhà nghiên cứu Jafiri đã tập hợp các nghiên cứu về du lịch có sự tham gia của cộng đồng và phân thành một số xu hướng phát triển chính. Xu hướng “tán thành” phát triển vào những năm 1960, xu hướng “cẩn trọng” vào những năm 1970 và cuối cùng là xu hướng “thích nghi”.

Ông cho rằng du lịch có sự tham gia của cộng đồng ra đời từ xu hướng thích nghi này. Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas lại chú trọng đến vấn đề người dân tham gia vào các hoạt động quản lý du lịch tại địa phương, và lợi ích kinh tế có được từ hoạt động du lịch mà kinh tế địa phương thu được. Murphy (1986) với “Tourism: A Community Approach” đã cung cấp một góc nhìn mới hơn về du lịch với phương pháp tiếp cận về sinh thái và cộng đồng, khuyến khích những sáng kiến nhằm gia tăng lợi ích trên nhiều lĩnh vực cho người dân với việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng dựa trên nguồn tài nguyên vốn có của địa phương hay Philip L.Pearce (1997) với “Tourism Community Relationships” đã kết hợp nhiều phương pháp trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, tâm lý nhằm nghiên cứu những khía cạnh mới của du lịch và nhất là làm sao cho cộng đồng địa phương hiểu và hành động về du lịch. Nghiên cứu của tác giả Derek Hall (2003) trong công trình “Tourism and Sustainable Community Development” nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững kinh tế và văn hóa.

Một tài liệu vô cùng hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến du lịch và phát triển nông thôn là “Building Community Capacity of Tourism Development” của Gianna Moscardo (2008). Tài liệu nêu ra những lý do thất bại trong cách làm du lịch ở nhiều nơi do thiếu năng lực kinh doanh, đặc biệt là do nhận thức và năng lực của cộng đồng địa phương về du lịch còn rất hạn chế. Tác giả đã phân tích những vấn đề còn tồn tại và đưa ra những phương án hữu hiệu trong việc lập kế hoạch phát triển du lịch thông qua những mô hình , du lịch cộng đồng thành công ở nhiều nơi trên thế giới. Tại châu Á, cộng đồng được đánh giá là có lợi thế để phát triển ở một số quốc gia có tiềm năng về văn hóa truyền thống.

Nhà nghiên cứu Hsien Hue Lee - Hiệu trưởng trường Đại học cộng đồng Hsin Hsing (Đài Loan, Trung Quốc) cho rằng “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của 9 người dân địa phương trong du lịch”. Các quốc gia nằm trong tiểu vùng sông Mekong như Campuchia, Lào, Trung quốc, Myanma, Thái Lan đã xây dựng chiến lược xóa đói giảm nghèo dựa vào du lịch, trong đó du lịch cộng đồng là một nguồn chính, bởi du lịch cộng đồng là một trong những loại hình du lịch có trách nhiệm, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Các nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị di sản Trong số các công trình nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị di sản không thể không kể đến công trình nghiên cứu Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của GS.

Ngô Đức Thịnh. Cuốn sách đã giới thiệu những giá trị tiêu biểu mang đặc sắc riêng có của văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới và hội nhập quốc tế (Ngô Đức Thịnh, 2010). Cuốn sách Gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc của Phạm Mai Hùng phân tích vai trò của hệ thống các bảo tàng Việt Nam trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; công tác bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc. đồng thời đề xuất một số giải pháp các hoạt động xã hội hóa bảo tàng (Phạm Mai Hùng, 2003).

Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch của Lê Hồng Lý cung cấp những kiến thức cơ bản về một số vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch, du lịch văn hóa, những sản phẩm du lịch văn hóa. Công trình cũng nêu lên những nội dung, nguyên tắc, quy trình tổ chức quản lý các di sản văn hóa nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch (Lê Hồng Lý, 2011). Bài viết “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong thời kỳ hội nhập” của Nguyễn Thị Thu Trang đăng trên tạp chí Việt Nam học cho rằng quản lý nhà nước về di sản văn hóa có thể hiểu là quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, trước hết, để giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước hiện đang tích hợp/vật chất hóa trong các di sản văn hóa với tư cách là nguồn thông tin khoa học chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho xã hội. Bên cạnh đó, quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa còn phục vụ mục tiêu giáo dục, hình thành các nhân cách văn hóa và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, là những nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước về văn hóa phải căn bản dựa trên mục tiêu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói riêng. 10 Ngô Phương Thảo với bài viết “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những góc nhìn” đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 289, tháng 7/2008 đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ di sản văn hóa hiện nay. Tác giả cho rằng, mỗi ngày di sản văn hóa càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ hệ lụy của cuộc sống hiện đại. Do đó ý thức về trách nhiệm phải giữ gìn các giá trị văn hóa đã tồn tại với thời gian càng phải lan tỏa sâu rộng trong xã hội, trong mỗi cộng đồng dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.

Các nghiên cứu về du lịch cộng đồng Tại Việt Nam, từ cuối những năm 1990, du lịch cộng đồng bắt đầu xuất hiện và dần được chú trọng phát triển cho đến ngày nay. Đặc biệt, vào năm 1999, Ủy ban Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc đã kêu gọi chính phủ các quốc gia “Tối đa hóa tiềm năng du lịch phục vụ xóa đói, giảm nghèo bằng việc xây dựng hợp tác giữa các nhóm chủ thể chính với cộng đồng dân cư và dân tộc thiểu số ở địa phương” (Bùi Thị Hải Yến 2012). Trên tinh thần đó, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã bắt đầu điều chỉnh những chính sách, chiến lược ưu tiên phát triển du lịch cộng đồng. Nhiều hội thảo, hội nghị cũng như nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về loại hình du lịch này ngày càng phổ biến và sâu rộng.

Những nghiên cứu về du lịch cộng đồng được thực hiện bài bản và có nhiều đóng góp trực tiếp về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau này phải kể đến công trình của tác giả Võ Quế (2006): “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng” hay “Du lịch cộng đồng”của tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ