Luận văn: Nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu đến quy hoạch không gian Bạch Long Vĩ

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến quy hoạch không gian đảo Bạch Long Vĩ. Đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp thích ứng.

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiểu rõ về Biến đổi khí hậu và Đảo Bạch Long Vĩ

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với quy hoạch không gian hiện đại. Đảo Bạch Long Vĩ, nằm tại thành phố Hải Phòng, là khu vực huyết mạch kinh tế với hoạt động nông nghiệp, du lịch và công nghiệp phát triển. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hà từ Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 đã chỉ ra rằng tác động của BĐKH đến quy hoạch sử dụng không gian đảo này là vô cùng quan trọng. Các yếu tố như nước biển dâng (NBD), tăng nhiệt độ, và biến động lượng mưa đang ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch phát triển bền vững cho khu vực này.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đảo Bạch Long Vĩ nằm ở Vịnh Bắc Bộ với điều kiện khí tượng thủy văn đặc biệt. Khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng nhất định, với lượng mưa tập trung vào mùa mưa. Các đặc điểm này làm cho đảo trở thành vùng nhạy cảm với biến đổi khí hậu.

1.2. Tầm quan trọng của quy hoạch không gian

Quy hoạch sử dụng không gian là công cụ thiết yếu để phát triển bền vững. Tại Bạch Long Vĩ, quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1:2000 được xây dựng dựa trên nhu cầu kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, tác động của BĐKH và NBD đang buộc các nhà quy hoạch phải điều chỉnh các kế hoạch này để đảm bảo an toàn và hiệu quả lâu dài.

II. Kịch bản Biến đổi Khí hậu và Nước Biển Dâng

Các kịch bản BĐKH và NBD năm 2016 cung cấp dữ liệu dự báo quan trọng cho việc lập kế hoạch. Theo nghiên cứu, nước biển dâng được dự báo sẽ ảnh hưởng đến diện tích đất khả dụng, làm giảm vùng đất ở phía ven biển. Nhiệt độ trung bình dự kiến sẽ tăng, trong khi lượng mưa có thể biến động không ổn định. Những thay đổi này sẽ tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế chính như nông nghiệp, công nghiệp và du lịch. Việc hiểu rõ các kịch bản này là cơ sở để điều chỉnh quy hoạch không giankế hoạch sử dụng đất phù hợp.

2.1. Dự báo nước biển dâng

Nước biển dâng là mối đe dọa trực tiếp nhất đối với đảo Bạch Long Vĩ. Theo các kịch bản được xây dựng, mức độ NBD sẽ tăng dần trong các năm tới, ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng ven biển. Diện mạo địa lý của đảo sẽ thay đổi, các vùng đất thấp có nguy cơ bị ngập. Điều này đòi hỏi phải điều chỉnh quy hoạch để di dời các hoạt động kinh tế ra khỏi vùng nguy hiểm.

2.2. Biến động nhiệt độ và lượng mưa

Nhiệt độ trung bình tăng sẽ ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệpnuôi trồng thủy sản. Lượng mưa không ổn định có thể gây ra lũ quét hoặc hạn hán. Các yếu tố này cần được tích hợp vào kế hoạch sử dụng không gian để đảm bảo phát triển bền vững của các ngành kinh tế địa phương.

III. Đánh giá Tính Dễ Bị Tổn Thương của Các Ngành Kinh Tế

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hà đã xác định các chỉ thị đánh giá tính dễ bị tổn thương của các ngành chính tại đảo Bạch Long Vĩ. Công nghiệp có nguy cơ cao do phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng ven biển. Nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng bởi thay đổi nhiệt độ và lượng mưa. Du lịch, một ngành kinh tế quan trọng, sẽ đối mặt với thách thức từ các hiện tượng thời tiết cực đoannước biển dâng. Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương này là bước quan trọng để lập kế hoạch thích ứngđiều chỉnh quy hoạch không gian phù hợp.

3.1. Tính dễ bị tổn thương của công nghiệp

Cơ sở hạ tầng công nghiệp tại Bạch Long Vĩ nằm chủ yếu ở khu vực ven biển, có mức độ dễ bị tổn thương cao với NBD. Bão và nước dâng có thể gây hư hỏng thiết bị, ngắt gián đường giao thông. Quy hoạch không gian cần xem xét dời các công trình công nghiệp ra khỏi vùng nguy hiểm hoặc xây dựng công trình phòng chống.

3.2. Tính dễ bị tổn thương của nông nghiệp và du lịch

Nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiệt độlượng mưa. Du lịch phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và cảnh quan tự nhiên. Cả hai ngành đều cần điều chỉnh kế hoạch phát triển để thích ứng với BĐKH và đảm bảo bền vững lâu dài.

IV. Giải pháp Định hướng Quy hoạch Không gian Bền vững

Để ứng phó với tác động của BĐKH và NBD, cần lồng ghép biến đổi khí hậu vào chiến lược quy hoạch của đảo Bạch Long Vĩ. Các giải pháp bao gồm: điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, xây dựng hệ thống phòng chống bão và nước dâng, phát triển du lịch bền vững, nâng cao năng suất nông nghiệp thích ứng. Kế hoạch sử dụng không gian phải được xây dựng dựa trên đánh giá rủi ro chi tiết, tích hợp các kịch bản BĐKHtính dễ bị tổn thương của các ngành kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được thiết kế để chịu được các tác động của biến đổi khí hậu.

4.1. Lồng ghép BĐKH vào chiến lược phát triển

Lồng ghép biến đổi khí hậu vào chiến lược quy hoạch là bước quan trọng nhất. Các kịch bản BĐKHNBD cần được sử dụng làm cơ sở để xây dựng kế hoạch dài hạn. Quy hoạch không gian phải linh hoạt, có khả năng điều chỉnh khi có thông tin mới về BĐKH. Cần thiết lập bộ chỉ thị để đánh giá hiệu quả của các giải pháp.

4.2. Các nội dung cụ thể và nội dung hạ tầng

Nội dung cụ thể bao gồm: dời hoạt động kinh tế ra khỏi vùng ngập lụt, xây dựng công trình chống bão, nâng cấp hạ tầng. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật cần được thiết kế chắc chắn, có khả năng chịu tác động của nước dângbão. Kế hoạch sử dụng không gian cần cân bằng giữa phát triển kinh tếbảo vệ môi trường.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về Biến đổi khí hậu 1. Ngoài nước Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đƣa ra bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu trên toàn cầu, cụ thể là sự gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dƣơng, hiện tƣợng băng tan và tăng mực nƣớc biển trung bình trở nên phổ biến.

Khoảng thời gian từ 1995-2006 có 11 năm đƣợc xếp vào những năm có nhiệt độ bề mặt trái đất nóng kỷ lục tính từ năm 1850. Trong khoảng thời gian từ 1906-2005 nhiệt độ không khí có xu thế tăng khoảng 0,74°C (0,56°C đến 0,92°C), lớn hơn con số đƣợc đƣa ra trong báo cáo đánh giá của IPCC lần thứ 3 là 0,6°C (từ 0,4°C đến 0,8°C) (1901-2000). Nhiệt độ không khí gia tăng trên toàn cầu và ở các khu vực vĩ độ cao ở phía Bắc nhiệt độ không khí tăng nhiều hơn. Trên lục địa nóng lên nhanh hơn các khu vực trên đại dƣơng.

Tại các nƣớc khu vực Đông Nam Á cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về BĐKH đƣợc công bố. Một nghiên cứu của Manton và cộng sự vào năm 2001 về xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dƣơng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng số ngày mƣa (ngày có lƣợng mƣa từ2 mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu, đánh giá số liệu lƣợng mƣa ngày trong thời kỳ từ năm 1950 đến năm 2000 ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á, vào năm 2009 Endo và cộng sự đã chỉ ra: số ngày có lƣợng mƣa trên 1mm có xu thế giảm ở hầu hết các nƣớc trong khu vực, trong khi đó cƣờng độ mƣa trung bình lại có xu thế tăng.

Mƣa lớn tăng lên ở phía nam Việt Nam, phía bắc Myanma và ở đảo Visayas và Luzon của Philipin trong khi đó lại giảm ở phía bắc Việt Nam. Một nghiên cứu của Peter Hayes đƣợc công bố vào năm 2008 đã mô tả cụ thể về các nhân tố khí hậu và các dạng hạ tầng chịu tác động của BĐKH. Có tới 12 nhân tố biểu hiện là bức xạ mặt trời tăng, mức ẩm ƣớt giảm, biến động của dải khô-ẩm tăng, sóng nhiệt tăng, mƣa giảm, mƣa ngày cực đại tăng, tần xuất và cƣờng độ bão tăng, tốc độ gió mạnh nhất tăng, hoạt động bão điện trƣờng tăng, tro bụi tăng, NBD cao thêm, độ ẩm có sự thay đổi. Các đối tƣợng hạ tầng cũng đƣợc xét đến khá đa dạng, bao gồm hạ tầng về đƣờng bộ, đƣờng sắt, cầu, hầm, sân bay, bến cảng, nƣớc, nƣớc thải, nƣớc lũ, điện, dầu-khí, mạng điên thoại cố định, mạng di động, công trình kiến trúc-xây dựng, tiện nghi đô thị.

Trong nước Hiện nay, biểu hiện của BĐKH nhƣ sự nóng lên của trái đất, NBD, sự gia tăng của thời tiết cực đoan đang trở thành một hiểm hoạ thực sự cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có những tác động trực tiếp đến phát triển KT- XH ở mỗi địa phƣơng. Năm 2011, Tổng cục Môi trƣờng – Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng- đã hoàn thành báo cáo “Điều tra, đánh giá và cảnh báo biến động của các yếu tố khí tƣợng thuỷ văn và sự dâng cao mực nƣớc biển do BĐKH có nguy cơ gây tổn thƣơng tài nguyên - môi trƣờng vùng biển và dải ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp phòng tránh và ứng phó”. Báo cáo đã phân tích, đánh giá biến động, xu thế và qui luật hoạt động của các yếu tố khí tƣợng thủy văn gây tổn thất trong mối liên hệ với sự BĐKH, trong đó khẳng định bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa, thủy triều là các nhân tố chính tạo ra sự dâng rút của mực nƣớc biển. Bộ Xây dựng phối hợp với Tổng hội xây dựng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học toàn quốc về tác động của BĐKH đối với lĩnh vực xây dựng vào cuối tháng 11/2010, đây là hội thảo quy mô lớn và sâu rộng về BĐKH đối với lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam.

Theo ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam, BĐKH, NBD ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển chung của thế giới và Việt Nam. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội để có thể tìm ra các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại. Trong Báo cáo “Các giải pháp quản lý tổng hợp, sử dụng, bảo tồn, bảo vệ tài nguyên – môi trƣờng biển Việt Nam theo hƣớng phát triển bền vững trên cơ sở đánh giá mức độ tổn thƣơng” (2011) của Tổng cục Môi trƣờng - Bộ tài nguyên và Môi trƣờng - đã đƣa ra giải pháp: Quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên - môi trƣờng, phục vụ phát triển bền vững cần dựa trên cơ sở phân vùng mức độ tổn thƣơng tài nguyên - môi trƣờng các vùng biển Việt Nam. Những vùng có mức độ tổn thƣơng khác nhau tƣơng ứng với sự phân bố tài nguyên và các hình thức khai thác, sử dụng tài nguyên khác nhau; bị ảnh hƣởng bởi các tai biến ở mức độ khác nhau và tùy thuộc vào khả năng ứng phó, chống chịu và phục hồi của hệ thống tự nhiên - xã hội.

Vì vậy, mức độ, cách thức sử dụng và quản lý tài nguyên - môi trƣờng cần phải điều chỉnh phù hợp với mức độ tổn thƣơng thì mới đáp ứng đƣợc yêu cầu. Quy hoạch là nội dung quan trọng phải đáp ứng theo không gian và thời gian, thực hiện theo các vấn đề ƣu tiên tăng khả 6 năng ứng phó của hệ thống tài nguyên - môi trƣờng trƣớc tai biến. Trên cơ sở đó, các mô hình sử dụng bền vững tài nguyên - môi trƣờng (NTTS sinh thái, nông - lâm nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, công nghiệp sạch, khai thác thủy sản bền vững, khai khoáng bền vững, giao thông thủy bền vững…) các vùng biển cần đƣợc ƣu tiên áp dụng nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên - môi trƣờng và hạn chế mâu thuẫn lợi ích trong khai thác và sử dụng tài nguyên. Mặt khác, cần áp dụng các biện pháp đồng thời nhằm bảo vệ môi trƣờng và phòng tránh thiên tai để hạn chế sự tổn thất tài nguyên – môi trƣờng Trong báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài “ Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đối với một số đảo, nhóm đảo điển hình của Việt Nam và đề xuất giải pháp ứng phó” mã số BĐKH – 50, thuộc chƣơng trình KH&CN phục vụ chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, mã số KHCN- BĐKH/11-15 do chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Đại An thực hiện đã đánh giá đƣợc tác động BĐKH NBD tới điều kiện tự nhiên các đảo điển hình nhƣ nguy cơ bị ngập lụt, điều kiện thủy văn, chế độ dòng chảy, đến cân bằng nƣớc.Tác động đến phân bố trầm tích tầng mặt, tới tài nguyên sinh vật, gây biến động đến hệ sinh thái rạng san hô trong đó có đảo Bạch Long Vĩ.

Báo cáo cũng nêu kết quả về tác động BĐKH NBD tới môi trƣờng và tai biến thiên nhiên làm ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng trầm tich.Kết quả nghiên cứu đã đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng của các đảo Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Côn Đảo và Phú Quốc với kịch bản BĐKH và NBD của Việt Nam năm 2012. Trong sách khảo “ Thiên nhiên và môi trƣờng vùng biển đảo Bạch Long Vĩ” do Trần Đức Thạnh làm chủ biên đã tập hợp và hệ thống các tài liệu điều tra, nghiên cứu đã có tại vùng biển đảo Bạch Long Vĩ trong thời gian qua. Tổng quan quy hoạch không gian. Quy hoạch không gian (Spatial Planning) là một khái niệm tƣơng đồng với tổ chức/quy hoạch lãnh thổ.

Quy hoạch không gian bao gồm có: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng, quy hoạch giao thông, quy hoạch môi trƣờng, quy hoạch phát triển kinh tế,… Quy hoạch không gian diễn ra ở nhiều cấp lãnh thổ, từ cấp địa phƣơng đến cấp vùng, cấp quốc gia và trong hầu hết trƣờng hợp sẽ tạo ra một bản quy hoạch không gian kèm theo (Andreas Faludi, Bas Waterhout, 2002). Trong lịch sử phát triển, quy hoạch không gian đƣợc các tổ chức và các nhà nghiên cứu đƣa ra định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Một trong những định nghĩa 7 sớm nhất đƣợc mô tả trong Hiến chƣơng Quy hoạch Không gian/Vùng ở khu vực châu Âu (the European Regional/Spatial Planning Charter) - còn đƣợc gọi là "Hiến chƣơng Torremolinos", Hội nghị Bộ trƣởng châu Âu Phụ trách Quy hoạch Vùng (the European Conference of Ministers responsible for Regional Planning = CEMAT) đã thông qua vào năm 1983: "Quy hoạch vùng/không gian là sự biểu diễn địa lý về các chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái. Ngoài ra, đây cũng là một ngành khoa học, một kỹ thuật hành chính và chính sách được phát triển như là một cách tiếp cận đa ngành và toàn diện hướng tới một sự phát triển vùng cân bằng và tổ chức không gian theo một chiến lược tổng thể".

Quy hoạch không gian trong thời gian gần đây là một xu hƣớng mới của quy hoạch, đặc biệt là trong khu vực châu Âu, khi cần thiết có một dạng quy hoạch bao trùm lên quy hoạch đất, quy hoạch tự nhiên/vật chất đồng thời có các nội dung liên quan đến vấn đề kinh tế - xã hội - môi trƣờng. Theo Glasson và Marshall, quy hoạch không gian có sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch vùng, bởi thực chất, quy hoạch không gian chính là sự “tiến hóa” của quy hoạch vùng nhƣng phạm vi không gian đƣợc mở rộng hơn và “mềm” hơn. Với hệ thống quy hoạch, kế hoạch trƣớc kia và hiện nay mà một số nƣớc đang áp dụng thì, trong thời kỳ mới quy hoạch không gian có thể thay thế quy hoạch vùng (Hình 1. Sơ đồ các mối quan hệ của hệ thống quy hoạch theo các cấp: quốc gia, vùng và địa phương [ Nguồn :Cục thông tin KH&CN Quốc gia – 2013] 8 Trong tài liệu trích yếu về Quy hoạch không gian của châu Âu (Ủy ban châu Âu, 1997) đã định nghĩa: Quy hoạch không gian là những phƣơng thức đƣợc sử dụng chủ yếu bởi khu vực công nhằm tác động đến sự phân bổ các hoạt động trong tƣơng lai của một không gian lãnh thổ nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ