Tổng quan nghiên cứu

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, là khu vực có giá trị sinh thái đặc biệt quan trọng với Khu dự trữ sinh quyển thế giới sở hữu tổng diện tích 28.500 ha. Toàn huyện đảo bao gồm 6 xã và 1 thị trấn với quy mô dân số đạt 21.340 người theo thống kê năm 2017, trong đó có tới 65% dân cư tập trung sinh sống tại khu vực thị trấn Cát Bà. Các hoạt động kinh tế cốt lõi của người dân trên đảo chủ yếu phụ thuộc vào ba trụ cột sinh kế chính: nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, dịch vụ du lịch sinh thái và sản xuất nông - lâm nghiệp. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu, Cát Bà đang đối mặt với những thách thức môi trường vô cùng gay gắt. Hiện tượng nước biển dâng kết hợp bão lũ đã gây xói lở nghiêm trọng trên 16,1 km trong tổng số 125 km bờ biển toàn thành phố Hải Phòng, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, tài sản và sự ổn định an ninh sinh kế của cộng đồng địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện hiện trạng biến đổi khí hậu và phân tích mức độ tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến các loại hình sinh kế của cư dân đảo Cát Bà. Mục tiêu cụ thể là lượng hóa các tổn thương sinh kế, đánh giá năng lực thích ứng của người dân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó đồng bộ nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ các đơn vị hành chính trên đảo Cát Bà, tập trung sâu vào địa bàn trọng điểm xã Việt Hải và thị trấn Cát Bà trong khung thời gian phân tích khí tượng 30 năm (1986 - 2015) và khảo sát thực địa giai đoạn 2017 - 2019. Về mặt ý nghĩa, đề tài cung cấp luận cứ khoa học vững chắc và số liệu thực chứng giúp chính quyền huyện Cát Hải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 50% rủi ro thiệt hại do thiên tai cho 100% các xã đảo ven bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên Khung sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001) và Khung phân tích sinh kế nông thôn của Scoones (1998), kết hợp với Khung sinh kế bền vững ven biển của IMM (2008). Mô hình nghiên cứu đánh giá cấu trúc sinh kế của người dân thông qua sự tương tác giữa 5 nguồn vốn cơ bản: nguồn vốn tự nhiên (đất đai, mặt nước ven biển, rừng đặc dụng), nguồn vốn vật chất (tàu thuyền, lồng bè nuôi trồng, cơ sở hạ tầng lưu trú), nguồn vốn tài chính (thu nhập, vốn tích lũy, khả năng tiếp cận tín dụng), nguồn vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe lao động) và nguồn vốn xã hội (mạng lưới cộng đồng, hợp tác xã, chính sách hỗ trợ).

Trong khuôn khổ nghiên cứu, bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007): Biến đổi khí hậu (sự thay đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ do tác động tự nhiên và nhân vi sinh), Nước biển dâng (sự gia tăng mực nước đại dương toàn cầu đe dọa vùng trũng thấp), Khả năng bị tổn thương (mức độ mà hệ thống sinh thái - nhân văn dễ bị tổn hại trước thiên tai) và Năng lực thích ứng (sự điều chỉnh hành vi và công nghệ của cộng đồng nhằm khai thác cơ hội hoặc giảm thiểu rủi ro khí hậu).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn liên tục suốt 30 năm (1986 - 2015) về nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng cực đoan từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Việt Bắc (trạm Hòn Dấu và trạm Phù Liễn), kết hợp dữ liệu quan trắc mực nước biển trạm Hòn Dấu giai đoạn 1975 - 2007 cùng Niên giám thống kê huyện Cát Hải. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra xã hội học và khảo sát thực địa từ năm 2017 đến năm 2019.

Quy mô mẫu khảo sát gồm 150 hộ gia đình tại 6 xã và 1 thị trấn thuộc huyện đảo Cát Hải, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo các nhóm sinh kế đặc thù (ngư dân nuôi trồng thủy sản, hộ làm du lịch homestay, hộ sản xuất nông nghiệp). Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia, cán bộ quản lý Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thủy sản và Vườn Quốc gia Cát Bà. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy xu thế tuyến tính và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được lựa chọn nhằm bảo đảm tính khách quan, cho phép mô hình hóa mối quan hệ nhân quả giữa biến động khí hậu và sự suy giảm các nguồn lực sinh kế của người dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích dữ liệu khí tượng giai đoạn 1986 - 2015 ghi nhận xu thế gia tăng nhiệt độ rõ rệt tại đảo Cát Bà. Nhiệt độ trung bình năm tại trạm Hòn Dấu và trạm Phù Liễn tăng từ 0,6°C đến 0,8°C so với các thập kỷ trước. Lượng mưa trung bình năm có sự biến động phức tạp với tần suất các đợt mưa lớn cực đoan gia tăng đột biến, gây ngập úng cục bộ và sạt lở đất đá ở các thung lũng đá vôi.

Thứ hai, tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn đã làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên đất và nguồn nước ngọt. Hiện tượng sạt lở bờ biển với chiều dài 16,1 km tại Cát Hải và xã Phù Long đã cuốn trôi nhiều diện tích bãi triều, đe dọa hơn 40% diện tích đất canh tác nông nghiệp trũng thấp trên đảo.

Thứ ba, các hoạt động sinh kế truyền thống chịu thiệt hại nặng nề. Kết quả khảo sát 150 hộ dân cho thấy có 78% hộ nuôi trồng thủy hải sản bị thiệt hại sản lượng lồng bè do nước biển ấm lên và bão lớn; 82% hộ canh tác nông nghiệp phản ánh tình trạng giảm năng suất cây trồng do khô hạn kéo dài và sâu bệnh. Đáng chú ý, có tới 71% người dân được khảo sát khẳng định biến đổi khí hậu đang tác động ở mức độ cao và rất cao đến tổng thu nhập hàng năm của gia đình.

Thứ tư, các mô hình thí điểm chuyển đổi sinh kế xanh tại xã đảo Việt Hải theo Đề tài cấp nhà nước mã số KC.09/16-24 mang lại tín hiệu rất tích cực. Việc chuyển đổi từ khai thác tự nhiên cạn kiệt sang nuôi ngao hoa bền vững, phát triển mô hình nhà sàn homestay 2 tầng bằng vật liệu thân thiện và trồng cây dược liệu hồng hoa đã giúp các hộ tham gia nâng cao thu nhập thực tế từ 20% đến 35%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến sinh kế cư dân Cát Bà dễ bị tổn thương bắt nguồn từ vị trí địa lý biệt lập ngoài khơi, cấu trúc địa hình karst nhạy cảm và sự phụ thuộc quá lớn của người dân vào tài nguyên tự nhiên. Khoảng 65% dân cư tập trung tại đô thị du lịch nhưng kết cấu hạ tầng ven biển chưa đáp ứng được các kịch bản thời tiết cực đoan. So sánh với các báo cáo khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mức độ gia tăng nhiệt độ và nguy cơ ngập lụt tại đảo Cát Bà hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo chung cho dải ven biển Bắc Bộ.

Trong luận văn, các chuỗi số liệu được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ đường thể hiện biến trình nhiệt độ và lượng mưa 30 năm với đường hồi quy xu thế đạt hệ số tin cậy cao; biểu đồ tròn minh họa cơ cấu nhận thức rủi ro của 150 hộ dân; cùng bảng ma trận tổng hợp đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế tại từng xã. Việc chuẩn hóa dữ liệu qua bảng và biểu đồ giúp phân định rõ ràng các vùng có tính nhạy cảm cao như xã Phù Long, xã Việt Hải để ưu tiên nguồn lực can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, gia cố công trình và bảo vệ bờ biển xung yếu: Nâng cấp, kiên cố hóa 16,1 km đê kè ven biển tại khu vực xã Phù Long và Cát Hải, kết hợp trồng phục hồi rừng ngập mặn chắn sóng; hoàn thành trước năm 2025 do UBND thành phố Hải Phòng và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp thực hiện, nhằm giảm thiểu tối thiểu 50% thiệt hại vật chất do bão lũ và triều cường.

Thứ hai, nhân rộng các mô hình sinh kế nông - lâm nghiệp thích ứng: Triển khai tối thiểu 10 mô hình kinh tế xanh thích ứng biến đổi khí hậu tại 6 xã trên đảo giai đoạn 2023 - 2028, bao gồm mô hình nhà lưới trồng rau hữu cơ, mô hình vườn treo chống ngập và mở rộng diện tích trồng cây dược liệu hồng hoa (hoa bụp giấm) nhằm tạo cảnh quan du lịch và dược liệu; mục tiêu nâng thu nhập bình quân của các hộ nông dân tham gia thêm 30%, do Hội Nông dân và Phòng Kinh tế huyện Cát Hải chủ trì.

Thứ ba, tái cơ cấu hoạt động nuôi trồng và dịch vụ du lịch ven biển: Hỗ trợ 100% cơ sở nuôi lồng bè chuyển đổi sang vật liệu thân thiện môi trường chống chịu sóng gió, quy hoạch lại các vùng nuôi ngao hoa sinh thái tại vịnh Lan Hạ, đồng thời chuẩn hóa mô hình homestay 2 tầng kết hợp ẩm thực truyền thống phục vụ du khách; thời gian thực hiện từ năm 2024 đến năm 2027 do Chi cục Thủy sản Hải Phòng và Phòng Du lịch huyện điều phối.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng: Tổ chức định kỳ ít nhất 12 khóa tập huấn kỹ năng ứng phó biến đổi khí hậu mỗi năm, tiếp cận trên 85% hộ dân tại các vùng nhạy cảm trước năm 2026, thành lập quỹ tín dụng vi mô hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp do Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà phối hợp với các tổ chức phát triển quốc tế tài trợ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thủy sản, UBND huyện Cát Hải): Sử dụng kết quả phân tích định lượng và ma trận tổn thương sinh kế để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp địa phương và tích hợp vào quy hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2025 - 2030.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Biến đổi Khí hậu và Phát triển Bền vững: Khai thác khung lý thuyết SLA kết hợp phương pháp PRA và chuỗi số liệu khí tượng 30 năm làm tài liệu tham khảo phương pháp luận chuẩn mực cho các đề tài nghiên cứu kinh tế sinh thái vùng hải đảo.

Thứ ba, Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới và Vườn Quốc gia Cát Bà: Ứng dụng các đề xuất về chuyển đổi sinh kế xanh tại xã Việt Hải nhằm giải quyết hài hòa xung đột giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học rừng - biển và nhu cầu mưu sinh của hơn 21.000 cư dân địa phương.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và doanh nghiệp lữ hành, du lịch cộng đồng: Tham khảo dữ liệu khảo sát thực tế từ 150 hộ dân để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế thích ứng, xây dựng tour du lịch sinh thái có trách nhiệm và phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp bền vững trên đảo Cát Bà.

Câu hỏi thường gặp

Nhóm ngành sinh kế nào tại đảo Cát Bà chịu tổn thương nặng nề nhất do biến đổi khí hậu? Ngành nuôi trồng và khai thác thủy hải sản chịu tác động nghiêm trọng nhất. Khảo sát thực tế chỉ ra 78% hộ nuôi lồng bè bị sụt giảm năng suất do nhiệt độ nước biển tăng cao và dịch bệnh bùng phát, trong khi hiện tượng sạt lở 16,1 km bờ biển làm thu hẹp nghiêm trọng ngư trường bãi triều tự nhiên.

Mô hình chuyển đổi sinh kế xanh tại xã Việt Hải có ưu điểm gì vượt trội? Mô hình tại xã Việt Hải kết hợp đồng bộ giữa homestay thân thiện môi trường, nông nghiệp hữu cơ trong nhà lưới và nuôi ngao hoa sinh thái. Giải pháp này giúp các hộ dân gia tăng thu nhập từ 20% đến 35%, đồng thời chấm dứt hoạt động khai thác tài nguyên kiệt quệ, tạo nền tảng thích ứng bền vững.

Nghiên cứu đã sử dụng những chuỗi dữ liệu khí tượng nào để chứng minh biến đổi khí hậu? Tác giả đã xử lý chuỗi số liệu quan trắc liên tục 30 năm (1986 - 2015) về nhiệt độ và lượng mưa từ trạm Hòn Dấu và trạm Phù Liễn, kết hợp dữ liệu mực nước biển trạm Hòn Dấu trong 32 năm (1975 - 2007) để thiết lập các phương trình xu thế biến đổi có ý nghĩa thống kê.

Cộng đồng cư dân đảo Cát Bà có nhận thức như thế nào về các nguy cơ thời tiết cực đoan? Nhận thức cộng đồng ở mức tương đối cao với 71% người dân trả lời rằng biến đổi khí hậu tác động mạnh đến đời sống. Tuy nhiên, khả năng tự thích ứng vẫn còn hạn chế do 65% dân số tập trung tại thị trấn phụ thuộc vào du lịch mùa vụ và thiếu nguồn vốn đầu tư công nghệ mới.

Luận văn đưa ra những giải pháp sinh kế nông nghiệp đặc thù nào cho địa hình vùng đảo? Đề tài đề xuất ứng dụng mô hình vườn treo thích ứng ngập úng, phát triển nhà lưới kiên cố chống bão và trồng cây dược liệu hồng hoa trên diện tích đất hoang hóa, vừa cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ cho hơn 21.340 người dân vừa tạo cảnh quan thu hút khách du lịch.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng biến đổi khí hậu và lượng hóa mức độ tổn thương sinh kế của 21.340 cư dân trên diện tích 28.500 ha Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm qua chuỗi số liệu khí tượng 30 năm (1986 - 2015), ghi nhận nhiệt độ tăng 0,6°C - 0,8°C và hiện tượng sạt lở 16,1 km bờ biển.
  • Chỉ rõ tính nhạy cảm của 3 ngành sinh kế trụ cột với hơn 70% hộ dân chịu ảnh hưởng tiêu cực về thu nhập và sản lượng kinh tế.
  • Đúc kết bài học thực tiễn từ mô hình sinh kế xanh tại xã Việt Hải giúp gia tăng thu nhập từ 20% đến 35% cho các hộ chuyển đổi nghề nghiệp.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với mục tiêu bảo đảm an ninh sinh kế bền vững cho 100% các xã đảo ven bờ đến năm 2030.

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho công tác quản trị môi trường vùng hải đảo. Hãy liên hệ các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu để khai thác toàn văn công trình, góp phần thúc đẩy các giải pháp bảo vệ sinh kế cộng đồng trước biến đổi khí hậu.