mở đầu cho việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đất đai theo quy định của Hiến pháp năm 1980. Luật Đất đai năm 1987 đã quy định chế độ sử dụng đối với từng loại đất, trong đó có đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp. Hai loại đất nông nghiệp và lâm nghiệp đều được xem là tư liệu sản xuất đặc biệt, do vậy quy định về chế độ pháp lý đối với hai loại đất này tương đối giống nhau. Các Điều 27, 28, 29, 30, 31 và 32 Luật Đất đai năm 1987 được áp dụng chung cho cả hai loại đất.
Chế độ sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp được xây dựng dựa trên nguyên tắc: bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất nông nghiệp, đất có rừng, hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đất có rừng thành đất phi sản xuất nông, lâm nghiệp; và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư công, của để mở rộng và thâm canh đất nông nghiệp. Ngày 05 tháng 4 năm 1988, Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành, hay còn gọi là Khoán 10. Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10 - 15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp; các tư liệu sản xuất được sở hữu dưới hình thức cá thể; người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975. Luật Đất đai năm 1987 và các văn bản hướng dẫn thi hành cùng với chính sách Khoán 10 trong thời kỳ đầu đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc quản lý và sử dụng đất đai, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.
Tuy nhiên dưới tác động của nền kinh tế thị trường, các quy định của Luật Đất đai năm 1987 không đủ sức điều chỉnh các quan hệ phát sinh. LUAN VAN CHAT LUONG download :12add luanvanchat@agmail.com Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992 đã khẳng định Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được chuyển quyền sử dụng đất. Hội nghị Trung ương 5 Khoá VII tháng 6 năm 1993 cũng khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quy định thời hạn sử dụng đất hợp lý với cây ngắn ngày và cây lâu năm, khi hết thời hạn người sử dụng đất có nhu cầu và có đủ điều kiện sẽ được tiếp tục sử dụng đất. Đứng trước đòi hỏi cấp bách của thực tế, trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 1993 thay thế Luật Đất đai năm 1987.
Luật Đất đai năm 1993 gồm 7 chương, 89 điều. Nội dung của Luật Đất đai năm 1993 có nhiều điểm quy định mới trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc những quy định tiến bộ của Luật Đất đai năm 1987 và những quy định hợp lý trước đó. Luật Đất đai năm 1993 đã quy định việc phân loại đất, làm cơ sở cho việc quy định chế độ quản lý, sử dụng đối với từng loại đất, xác định giá các loại đất, tính thuế việc chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất… Đối với đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, chế độ pháp lý của hai loại đất này được quy định tại các điều 20, 46, 47, 48, 49, 50, 51 Luật Đất đai năm 1993 và được hướng dẫn chi tiết việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tại Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993, Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ. Trong Luật Đất đai năm 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài với 5 quyền: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp.
Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm và ngư nghiệp, 50 năm đối với cây lâu năm. Việc giao đất sẽ được tiến hành lại vào thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng. Luật Đất đai năm 1993 cũng quy định mức hạn điền đối với nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là 2 ha ở miền Bắc và các tỉnh miền Trung, 3 ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10 ha đối với các xã vùng đồng bằng và 30 ha đối với vùng trung du và miền núi. Chế độ sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp được xây dựng dựa trên các quan điểm: khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (kể cả người nước ngoài) đầu tư, thâm canh nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất; LUAN VAN CHAT LUONG download :13add luanvanchat@agmail.com bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất nông nghiệp, đất có rừng; hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đất có rừng thành đất không phải là sản xuất nông nghiệp; và khai thác triệt để tiềm năng của đất vườn, đất mặt nước, đất đồi núi… chưa được sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả.
Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2001 theo hướng làm rõ trách nhiệm pháp lý của người sử dụng đất trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và thể hiện sự đa dạng trong các hình thức sử dụng đất. Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993, tuy nhiên lần đầu tiên đất đai được chính thức xem như "hàng hoá đặc biệt" có giá trị và có thể chuyển nhượng. Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung vẫn khẳng định "đất đai là tài sản của Nhà nước" và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối với thị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu vực thành thị. Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào thị trường này.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến trước khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn. Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/ năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6%/ năm trong giai đoạn 2000 - 2003. An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng. Tuy nhiên rất nhiều thách thức đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam như giá cả sản phẩm nông nghiệp giảm, cạnh tranh tăng cao khi Việt Nam hội nhập kinh tế toàn cầu thông qua Hiệp định tự do thương mại các nước ASEAN (AFTA) và gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO).
Nông dân Việt Nam vẫn còn tương đối nghèo và một tỷ lệ cao dân số vẫn dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, trong khi diện tích đất nông nghiệp đang ngày một thu hẹp, chất lượng đất giảm sút. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về tiế p tu ̣c đổ i mới chin ́ h sách , pháp luật đấ t đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước , Luật Đất đai năm 2003 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004, thay thế Luật Đất đai năm 1993 nhằm đáp ứng giai đoạn phát triển mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Luật Đất đai năm 2003 gồm 7 chương, 146 điều. Tại Điều 13 về phân loại đất, khái niệm "đất nông nghiệp" được mở rộng bao gồm 8 loại đất với tên gọi LUAN VAN CHAT LUONG download :14add luanvanchat@agmail.com "nhóm đất nông nghiệp" thay cho "đất nông nghiệp" trước đây.
Chế độ pháp lý của các loại đất nông nghiệp được quy định cụ thể tại Mục 2 từ Điều 70 đến Điều 82 và tại một số điều có liên quan: 23, 33, 35, 36, 37, 39, 43, 49, 58, 66, 68, 86, 105 và 113 Luật Đất đai năm 2003. Ngày 21 tháng 6 năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tháo gỡ những ách tắc, khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai, Chính phủ đã kịp thời trình Quốc hội ban hành ban hành 04 Luật sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Đất đai và trên 20 Luật có nội dung điều chỉnh liên quan đến đất đai. Luật Đất đai năm 2003 đã có bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng thúc đẩy phát triển thị trường hàng hóa nông nghiệp, tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa sản xuất lớn vào phát triển nông thôn.
Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn đã khuyến khích việc tích tụ đất đai để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa và quá trình này đã từng bước diễn ra gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại. Việc cấp giấy chứng nhận đã tạo điều kiện cho người dân thế chấp, vay vốn mở rộng sản xuất nền nông nghiệp hàng hóa lớn. Hiệu quả kinh tế của tích tụ đất đai đã góp phần tăng nguồn thu ngân sách địa phương và thay đổi diện mạo của nông thôn mới. Tuy nhiên quá trình tích tụ đất đai đang diễn ra phổ biến là quy mô nhỏ, hầu như chỉ sử dụng lao động gia đình là chính.
Mặc dù đã có tác động tích cực, song do quy định về thời hạn, hạn mức sử dụng đất nông nghiệp nên quá trình tích tụ, tập trung đất đai vẫn còn hạn chế; diện tích đất tích tụ, tập trung được chưa đủ lớn để đầu tư cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa trên quy mô lớn trong nông nghiệp.